Truyện ngắn: Một Cuộc Gặp

Thứ tư - 23/09/2026 06:51 | Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Bích Nhàn |   8
Cuộc gặp gỡ bất ngờ trong ngày tang lễ làm bừng sáng chân lý: chính tình yêu thương và lòng thương xót có thể hàn gắn hận thù

#266 Bước Từng Bước | Truyện ngắn: Một Cuộc Gặp

va230926a

 

Một câu chuyện cảm động về người mẹ Việt Nam anh hùng sống đức tin giữa chiến tranh, đã âm thầm cứu giúp cả những người ở hai chiến tuyến, trở thành nhịp cầu của lòng nhân ái và sự tha thứ. Cuộc gặp gỡ bất ngờ trong ngày tang lễ làm bừng sáng chân lý: chính tình yêu thương và lòng thương xót có thể hàn gắn hận thù, mở ra con đường hòa giải.
 

Truyện ngắn: MỘT CUỘC GẶP
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Nhàn

trong tuyển tập các tác phẩm vào vòng chung khảo giải truyện “Hy vọng và Hòa Giải” của Vatican News Tiếng Việt.        

1.

Bác đọc bằng giọng chậm rãi, rõ ràng, thể hiện sự cung kính, tôn trọng người đã khuất. Tất cả mọi người có mặt lúc đó đều trang nghiêm xúc động khi ngthe một bác trong Hội người cao tuổi của xã đọc điếu văn tiễn ngoại – Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Điếu văn như cuốn phim, trình chiếu nhiều câu chuyện khiến mọi người đồng cảm rưng rưng…

Hồi đó, ngoại vừa sinh cậu Út được mấy ngày thì ông ngoại bị giết.. Bà ngoại chỉ biết chồng làm nghề dạy học, thầy giáo trường làng - nên hoảng hốt sợ hãi khi có một ngày ông bị Tây bắt đem vào tận núi xa, bắn và chôn tập thể để sau đó không hết bàng hoàng khi biết tin ông ngoại bí mật hoạt động cách mạng. Chồng vội về trời giữa lúc cảnh nhà nheo nhóc mà đất nước vẫn chìm trong mùi khói súng. Chẳng biết bằng cách nào mà ngoại đã cáng đáng được bầy con, dù chẳng thành tựu học rộng tài cao nhưng không người con nào của ngoại mù chữ hay phải ăn nhờ ở đậu, cạy cửa xin cơm, cắp nảy nhà ai. Nếu ai khen giỏi giang, ngoại bảo đàn bà thời đó, mỗi người khổ một kiểu chứ riêng gì mình…

Mẹ tôi là con kế út, lại lầy chồng gần nên từ nhỏ, chị em tôi được ngoại ẵm bồng, cho ăn, ru ngủ… Tôi út ét, sinh ra sau giải phóng mấy năm. Đận đó, ba mẹ bận vào tận trong rừng, cùng khai phá vùng đất hoang cận rừng để lập thôn Tân Đạo nên đem tôi gửi hẳn nhà ngoại. Ở với ngoại chỉ việc chơi, ăn, ngủ nên đứa trẻ mê chơi phàm ăn như tôi khoái chí tử.

Nhà ngoại ở giữa cánh đồng, nguyên khu đất cao đó chỉ mỗi nhà ngoại nên vườn tược rộng rinh. Tôi mê tít. Trên khu vườn tới mấy sào đất ruộng, ngoài hai cây dừa và một cây ổi, ngoại trồng thay phiên mì, khoai, bắp và cắm giàn cho mấy hàng dưa leo. Tôi lẩn quẩn ngoài đó cả ngày, nhiều đến nỗi còn làm cái nhà chòi dưới gốc ổi mát rượi tính “định cư” luôn. Rau trái vườn nhà, ngoại cũng đem ra chợ nhưng luôn ưu tiên cho con cháu ăn thoải mái. Nếu có đem ra chợ cũng cái kiểu vừa bán vừa cho – cây nhà lá vườn bán lấy thảo chứ nhiều nhõi gì mà kì kèo – ngoại nói. Luôn như vậy, ngoại khởi lởi với người, rộng rãi với đời.

Có một điều tôi chẳng thể nào tưởng tượng nổi là chuyện tôi gắn bó nhiều, thuộc mặt từng cọng cỏ chiếc lá sau vườn nhà ngoại nhưng mãi đến khi bà ngoại được nhận danh hiệu cao quý tôi mới biết khu vườn ấy từng có tới hai chiếc hầm bí mật cao cả.

Quay lại câu chuyện, sau khi ông ngoại mất thì cậu Ba cũng hy sinh trong một trận ném bom ở chiến khu. Tang chồng tang, đau tới chết đi sống lại nhưng ngoại vẫn lặng lẽ đào hầm che giấu tất cả ba cán bộ - tới đoạn này của điếu văn , ai cũng bùi ngùi rơm rớm. Chính chồng con là động lực chứ xưa giờ chỉ lấm lem bùn đất lo miếng cơm manh áo, vận mệnh đất nước, làm cách mạng là những chuyện xa lạ; nhưng khi biết chồng bị sát hại vì bí mật làm cách mạng, nỗi đau mất chồng chưa kịp nguôi lại nhận được giấy báo tử của con ở chiến trường thì trong lòng ngoại dâng lên ý nghĩ: không thể cứ để chiến tranh kéo dài mãi được, phải chung tay đem lại bình yên. Khi ý nghĩ ấy nảy nở thì ba người cán bộ kia về làng, cũng trong tình cảnh đối mặt mỗi ngày với cái chết, họ có chung lí tưởng với chồng con lại đang gặp nguy hiểm, mình sao làm ngơ được. Rồi lại có người phụ nữ mất chồng, có người mẹ buồn thương vì mất con. Ngoại nghĩ, trong chiến tranh, đau thương nhất vẫn là đàn bà. Vậy là hai chiếc hầm sau vườn đã xuất hiện trong bóng tối và tồn tại trong bí mật, trời không biết đất không hay. Mẹ kể, để bảo đảm an toàn, phía trên hầm ngoại trồng mì, gieo bắp, chất cây lá ngụy trang một cách tự nhiên tinh tế, chỉ có người mang con mắt thần mới mong tìm thấy.

Nói vậy chứ đâu có dễ dàng cho một cuộc che giấu. Có lần, ngoại nghĩ đã gang tấc với cái chết khi bị giặc bắt vì lý do có người báo tin đào hầm che giấu cán bộ. Hai người lính của phe kia đến nhà lục tung từng cái chén, ra vườn nhìn sắc lẻm từng tấc đất, họ sục sạo, xăm nát khu vườn nhưng không tìm ra bất cứ dấu vết nào. Vẫn không cam tâm tha bổng vì sợ mắc lận, sợ mình bị qua mặt nên bà ngoại bị hỏi cung, có anh lính tức giận vì không có được thông tin gì, cho rằng ngoại ngoan cố nên đã ra tay thô bạo. Bị tát, mạnh đến xịt máu mũi nhưng ngoại vẫn bình thản nói không hề. Còn chuyện chồng con cùng làm cách mạng? Tại sao làm vợ làm mẹ lại không chịu khai báo? Ngoại bất lực nói một cách bình tĩnh, đại loại tôi thuộc phận đàn bà chỉ biết sinh con ẵm bồng cơm nước, không biết gì chuyện chiến đấu phe nọ phe kia, cũng không biết làm cách mạng là làm gì… Xin các ông tha cho, chồng con làm gì đều bí mật nên tôi không biết thiệt. Cứ như vậy, Hỏi đi hỏi lại nhiều lần, có cả răn đe nhưng ngoại vẫn thống nhất ngàn lời khai như một, cuối cùng ngoại cũng được thả về. Kể chuyện đó và rưng rưng, ngoại nói rất thành tâm, tính ra mình cũng may vì những người lính đó có tra gạn, đe nẹt nhưng nặng lắm cũng chỉ cái tát chứ không đến nỗi tàn tệ lóc da xẻ thịt. Đặc biệt khi ngoại chảy nước mắt nói bỏ bầy con nheo nhóc đói khát ở nhà thì người lính đó cũng bớt hung tàn tra gạn và rất nhanh sau đó đã thả “nghi phạm” về. 

Nhớ lúc nghe câu chuyện đó, tôi trách sao giờ mới kể, mẹ nói tưởng hồi nhỏ cứ quanh quẩn ngoài khu vườn đó chơi chắc bà ngoại đã kể rồi; với lại chiến tranh là nỗi đau, giờ vui mừng vì con cái được hít thở không khí trong lành, thơm mùi hoa lá chứ không khét lẹt khói súng đạn như ngày xưa nên mẹ cũng muốn im lặng cho quá khứ ngủ yên. Với lại, nhiều khi những việc làm thiêng liêng cao cả nhưng bạ đâu kể đó nó lại hóa tầm thường.

À, kể nãy giờ mà quên mất chi tiết nhà ngoại tôi thờ Chúa Trời. Sau khi chồng mất vì bí mật hoạt động cách mạng bà ngoại mới nhớ lại lời chồng. Không phải một mà rất nhiều lần ông ngoại nói thông điệp của Chúa với vợ và các con. Ngoại khẳng định/ Thiên Chúa giáo/ nhấn mạnh tầm quan trọng của hòa bình, hòa giải. Chiến tranh là điều bất hạnh lớn, là một con chiên ngoan đạo, chúng ta phải khao khát cầu nguyện và hành động vì hòa bình. Nhớ lại những lời đó, bà ngoại khóc vì mình vô tâm, cứ an bề cơm nước bồng bế con mà không lưu tâm những lời nói ra từ máu thịt của chồng.

“À, sao nhà ngoại theo đạo Thiên Chúa/ mà mẹ không?

“Thứ nhất, mẹ là con ông ngoại trước. Còn chồng sau của ngoại (ngoại nhỏ) mới là người Công giáo nên bà ngoại học giáo lý theo đạo của chồng. Với lại, mẹ theo đạo Thiên Chúa, con gái không theo là hoàn toàn bình thường. Việc theo hay không theo đạo là quyền tự do của mỗi người, không ai có thể ép buộc. 

Hóa ra, người bà với khuôn mặt chằng chịt những nếp nhăn và rất yêu chìu mấy đứa cháu lại là một kho bí mật mà tôi đã chưa kịp khai thác thì ngoại đã về với Chúa. Nhìn di ảnh của ngoại, tôi ngưỡng mộ chứ không khóc. Nhất định không khóc. Nhớ hồi nhỏ tôi rất sợ nếu trong xóm có đám chết, ngoại nói chết là bắt đầu một sự sống mới, nên mai mốt ngoại hết tuổi thì đừng sợ, đừng khóc...

2.

Lúc làm lễ truy điệu, cậu Tư tôi, người con thứ của ngoại trang trọng bê chiếc khung xinh đẹp/ bên trong lồng bằng khen Bà mẹ Việt Nam anh hùng/ và cậu Út, bê di ảnh ngoại đứng song song. Lúc một người hô lớn “giờ di quan chuẩn bị bắt đầu”, ai nấy đều quay mặt ra cửa thì nhìn thấy từ ngoài quốc lộ có một chiếc taxi màu xanh lá từ từ dừng lại. Cửa xe mở, có ba người đàn ông mái đầu đã dợm trắng bước qua chiếc cầu bắc ngang mương lớn/ rồi sấp sải men theo bờ ruộng/  hướng thẳng về phía cửa nhà ngoại. 

Tôi nghĩ (chắc mọi người cũng nghĩ như tôi) bạn bè của mấy cậu đến viếng ngoại. Nhưng nhìn cách họ bước, như đi trên con đường quen thuộc, như đứa con nơi xa về lại ngôi nhà của chính mình, đã làm quả đầu tôi hiện lên một dấu hỏi về ba người đàn ông xa lạ, lại có nét thân quen tự nhiên đó. Hồi trống tiễn đưa xổ mạnh làm ba khuôn mặt kia nhợt nhạt và bước gấp hơn. Cứ nghĩ đầu óc lẩn thẩn của mình thích tưởng tượng những chuyện bất ngờ không ai đoán được, nhưng mọi sự diễn ra còn li kì hơn những gì tôi nghĩ. Ba người đàn ông đã vào kịp, quỳ sụp bên quan tài của ngoại. Tôi lặng người khi thấy trên những khuôn mặt kia đã đầm nước mắt. 

Khi chuyện hậu sự đã xong xuôi, ba người đàn ông lạ đã ngồi lại với đại gia đình. Một người nói, vẻ ngậm ngùi: chiến tranh đi qua, quyện cùng nỗi đau của những người mẹ. Những người mẹ thời chiến là nơi hội tụ nỗi đau vô cùng và niềm vinh quang bất diệt. Năm 72 chúng tôi rút đi, lo cho mẹ bị địch phát hiện và làm khó dễ, nhưng mẹ ôm từng đứa, bảo cứ yên tâm chiến đấu đem hòa bình về, mẹ tự lo liệu được. Chia tay, anh em hẹn ngày hòa bình sẽ về thăm mẹ. Hòa bình về thật, nhưng ba đứa cứ hẹn mãi mà không biết thời gian chạy như tên, để cuối cùng gặp mẹ trong cảnh sinh ly tử biệt - người đó nói xong, tất cả mọi người đều mủi lòng chực khóc…

Trò chuyện thêm một lát, khi cả ba nói lời chào tạm biệt thì nhà lại bất ngờ có khách.

Lại một người đàn ông tóc đã bạc nhiều, với gia đình tôi là một người hoàn toàn lạ, nhưng “ba người con” của bà ngoại lại ngỡ ngàng bối rối khi người đàn ông đó bước vào.

“Chết rồi, ngày xưa, họ đều là lính nhưng không chung chiến hào!” – một bác trong Hội người cao tuổi còn ngồi lại với gia đình nói nhỏ. Sau thông tin đó, mọi người đều bối rối vì không ai hình dung được điều gì sẽ xảy ra…

Tôi nhìn thấy chút khó xử trong đôi mắt của mỗi người; nhưng họ vẫn lịch thiệp cúi chào nhau như những người quen cũ tình cờ gặp nhau. Người lạ mới tới chủ động hơn, dù có e dè ngại ngùng nhưng lại chào trước, và đưa tay ra bắt. 

Giờ thì hiểu rồi. Ba người lính cách mạng biết “người lạ” này, họ đã gặp nhau trong những năm tháng khói lửa, không chung con đường nên gặp nhau đôi lần cũng là những cuộc đối đầu cam go. Hóa ra, người lạ mới vào là một người lính miền Nam, một ngày đầu tháng tư, trong một lần đối mặt hai bên, đã bị thương rồi lạc đơn vị. Anh mò đến đám ruộng sau vườn nhà ngoại khi trời dần về sáng. Và anh lính đẫm máu đã được ngoại loay hoay vất vả đem vào nhà, ngoại che giấu và giúp đỡ anh chữa trị, dưỡng thương. Thật là một tình huống lâm li có một không hai. Hầm sau nhà nuôi cán bộ nhưng trong nhà ngoại lại giấu một anh lính miền Nam. 

“Một việc làm nguy hiểm nhưng ngoại chỉ nghĩ/ anh ta đang sắp chết, có ai thấy chết mà không cứu... Khi anh lính đã ở an toàn trong hóc nhà sau cái bịch đựng lúa, thì có cán bộ đến hỏi có thấy ai bị thương qua đây không, ngoại trả lời không thấy. Khi sức khỏe tạm ổn, người lính đó đã nhanh chóng rời đi để trả lại sự an toàn cho ngoại. 

Mẹ kể và khẳng định, vì theo Thiên Chúa, vì đức tin của ngoại rất vững vàng nên ngoại chăm chỉ cầu nguyện, yêu thương và làm việc thiện…

“Những ngày cuối cùng của cuộc chiến, mẹ đã thắp lên cho tôi niềm tin và hy vọng, mẹ anh hùng, mẹ bất diệt vì tình thương…” – người đàn ông mới vào nói câu đó trước khi họ lại bắt tay nhau trước khi cúi đầu chào ngoại ra về. 

“Hòa bình được mua bằng yêu thương và hy vọng!” – tôi đã nghe một trong số họ nói như vậy, lúc cùng nhau ra ngõ. 

Vâng, giờ thì tôi đã giải mã được thái độ hòa đồng khi gặp nhau của họ rồi. Ngày xưa là kẻ thù, bây giờ là bạn. Ngày xưa có thể chĩa súng vào nhau nhưng bây giờ họ đều đang quỳ trước ngoại, đang tiếc thương người mẹ đã cưu mang họ một đoạn đường. Quá khứ không có điểm chung, nhưng bây giờ, họ đang nhìn về một hướng. Tôi lại vỡ ra một điều: biết đâu cái kết mãn tuổi trời của ngoại là cơ hội để người ta đoàn kết, cùng nhau vượt qua mất mát, hướng tới một tương lai...

Tôi vẫn nhớ có lần mình hỏi ngoại:

“Ngoại ơi, Chúa dạy con người điều gì?”

Ngoại trả lời: 

“Chúa dạy con người hãy yêu thương nhau như chính mình và tha thứ cho những lỗi lầm của người khác. Mọi người đều là con cái của Chúa, và vì vậy, nên sống hiệp nhất trong tình yêu thương của Ngài.”

Hiểu rồi. Sự hiệp nhất này không chỉ giới hạn trong phạm vi tôn giáo mà còn lan tỏa đến mọi mặt của đời sống. Điều này có thể bao gồm việc giải quyết các mâu thuẫn, hàn gắn những tổn thương trong quá khứ, kiến tạo hòa bình, lan tỏa tình yêu thương và sự tha thứ... 

3.

Chiều, tôi tới mộ ngoại rì rầm trong gió thoảng. 

“Câu chuyện của những người lính làm con vỡ ra nhiều điều. Những người lính từng là kẻ thù trong quá khứ/ bây giờ hoàn toàn có thể làm những người bạn tốt, làm những đứa con trong gia đình. Họ không có lỗi. Chỉ vì họ đã được tuyên truyền khác nhau về một sự kiện lịch sử/ nên dẫn đến những quan điểm, nhận thức và hành động khác nhau về mục tiêu và ý nghĩa của cuộc chiến. Rốt cuộc, họ cũng là nạn nhân. Và chính ngoại, ngoại đã giúp họ hòa giải…

Tôi nói thầm và dồn hết ngưỡng mộ yêu thương và biết ơn lên cây thập giá được đặt ở nơi cao nhất, tôn kính nhất trên tấm bia.

Truyện ngắn: MỘT CUỘC GẶP
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây