Văn kiện Chung kết Đại hội lần thứ XVI của THĐGM

Thứ bảy - 05/04/2025 06:45 | Tác giả bài viết: Chuyển ngữ: Ban Dịch thuật HĐGMVN |   22
Văn kiện Chung kết Đại hội lần thứ XVI của THĐGM
WHĐ (05/4/2025) - Vào chiều thứ Bảy, ngày 26 tháng 10 năm 2024, các tham dự viên Khóa họp thứ hai của Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục đã phê chuẩn Văn kiện Chung kết. Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã phê chuẩn và truyền công bố văn kiện này. Sau đây là bản dịch Việt ngữ Văn kiện Chung kết do Ban Dịch thuật Hội đồng Giám mục Việt Nam thực hiện.
 

Viết tắt

Ghi chú của Đức Thánh cha Phanxicô

Giới thiệu

Phần I – TRỌNG TÂM CỦA TÍNH HIỆP HÀNH

Được Chúa Thánh Thần kêu gọi hoán cải

Giáo hội như là Dân Thiên Chúa, Bí tích của sự hiệp nhất

Những gốc rễ mang tính bí tích của Dân Thiên Chúa

Ý nghĩa và các chiều kích của tính hiệp hành

Hiệp nhất xét như hòa hợp

Linh đạo hiệp hành

Tính hiệp hành như lời ngôn sứ cho thế giới hôm nay

Phần II – CÙNG NHAU TRÊN THUYỀN

Sự hoán cải các mối tương quan

Những mối tương quan mới

Trong sự đa dạng của các bối cảnh

Các đặc sủng, các ơn gọi và các thừa tác vụ cho sứ vụ

Các thừa tác viên có chức thánh phục vụ cho sự hòa hợp

Thừa tác vụ của Giám mục: Tích hợp các hồng ân của Chúa Thánh Thần trong sự hiệp nhất

Cùng với giám mục: các linh mục và phó tế

Sự cộng tác giữa các thừa tác viên có chức thánh trong một Giáo hội hiệp hành

Cùng nhau vì sứ vụ

Phần III – THẢ LƯỚI

Hoán cải các tiến trình

Sự phân định của Giáo hội hướng đến sứ vụ

Cơ cấu của tiến trình đưa ra quyết định

Tính minh bạch, việc giải trình và sự đánh giá

Tính hiệp hành và các tổ chức tham gia

Phần IV – MỘT MẺ LƯỚI ĐẦY

Hoán cải về các mối liên kết

Được bén rễ vững chắc nhưng vẫn là những người hành hương

Trao đổi các hồng ân

Các mối dây hiệp nhất: các Hội đồng Giám mục và các Đại hội Giáo hội

Việc phục vụ của Giám mục Rôma

Phần V – “THẦY CŨNG SAI ANH EM”

Việc hình thành một dân gồm những môn đệ truyền giáo

Kết luận

Một bữa tiệc cho muôn dân

Phụ lục 1: Diễn văn khai mạc Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục

Phụ lục 2: Diễn văn bế mạc Khóa họp thứ hai của Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XVI

 

 

GIÁO HOÀNG PHANXICÔ

 

ĐẠI HỘI THƯỜNG LỆ LẦN THỨ XVI CỦA THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC

Hướng tới một Hội thánh hiệp hành: Hiệp thông, tham gia và sứ vụ

 

VĂN KIỆN CHUNG KẾT

 

Viết tắt

AA   Công đồng Vatican II, Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem (18/11/1965)

AG   Công đồng Vatican II, Sắc lệnh Ad Gentes (07/12/1965)

AL    Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia (19/3/2022)

CCC   Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo

CCEO   Bộ giáo luật Đông phương - Codex canonum Ecclesiarum Orientalium (18/10/1990)

CD   Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh Christus Dominus (28/10/1965)

CIC  Bộ giáo luật - Codex iuris canonici (25/01/1983)

CV   Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate (29/6/2009)

DCSVăn phòng Tổng thư ký Thượng Hội đồng, Tài liệu cho giai đoạn châu lục (27/10/2022)

DD   Phanxicô, Tông thư Desiderio Desideravi (29/6/2022)

DN   Phanxicô, Thông điệp Dilexit Nos (24/10/2024)

DV   Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Dei Verbum (18/11/1965)

EC   Đức Phanxicô, Tông hiến Episcopalis Communio [Hiệp thông giữa các Giám mục] (15/9/2018)

EG   Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium (24/11/2013)

EN   Thánh Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi (08/12/1975)

FT    Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti (03/10/2020)

GS   Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et spes (07/12/1965)

ITC  Ủy ban Thần học Quốc tế [International Theological Commission], Tính hiệp hành trong đời sống và sứ vụ của Giáo hội (02/3/2018)

LG   Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium (21/11/1964)

LS    Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’ (24/10/2015)

MC   Thánh Phaolô VI, Tông huấn Marialis Cultus (02/02/1974)

NMI  Thánh Gioan Phaolô II, Tông thư Novo Millennio Ineunte (06/01/2001)

PE   Đức Phanxicô, Tông hiến Praedicate Evangelium (19/3/2022)

SC   Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium (04/12/1963)

SRSThánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (30/12/1987)

UR   Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh Unitatis Redintegratio (21/11/1964)

UUSThánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Ut Unum Sint (25/5/1995)

 

 

 

Ghi chú của Đức Thánh cha Phanxicô 

GHI CHÚ CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

ĐI KÈM
VĂN KIỆN CHUNG KẾT CỦA ĐẠI HỘI THƯỜNG LỆ LẦN THỨ XVI CỦA THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC

Ngày 25 tháng 11 năm 2024

Trong các giai đoạn khác nhau của hành trình Thượng Hội đồng mà tôi đã khởi xướng vào tháng 10/2021, chúng ta đã lắng nghe điều Chúa Thánh Thần muốn nói với Giáo hội trong thời điểm hiện tại.

Văn kiện Chung kết của Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục đúc kết những thành quả của một hành trình được đánh dấu bởi việc lắng nghe Dân Thiên Chúa và sự phân định của các mục tử. Toàn thể Giáo hội, dưới sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, đã được mời gọi diễn giải kinh nghiệm của mình và xác định các bước cần thực hiện để sống hiệp thông, thực hiện sự tham gia và thúc đẩy sứ vụ mà Chúa Giêsu Kitô đã ủy thác cho mình. Hành trình hiệp hành, được thực hiện tại các Giáo hội địa phương, sau đó đã trải qua các giai đoạn cấp quốc gia và châu lục, dẫn đến việc tổ chức Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục qua hai khóa họp vào tháng 10/2023 và tháng 10/ 2024. Giờ đây, cuộc hành trình tiếp tục tại các Giáo hội địa phương và các nhóm Giáo hội, cùng với việc trân trọng Văn kiện Chung kết đã được các thành viên Thượng Hội đồng biểu quyết và phê chuẩn toàn bộ vào ngày 26 tháng 10. Tôi cũng đã phê chuẩn và ký tên vào Văn kiện này, đã truyền công bố nó, và cùng hòa mình vào tiếng nói "chúng tôi" của Thượng Hội đồng, tiếng nói qua Văn kiện Chung kết này gửi đến toàn thể Dân thánh trung thành của Thiên Chúa.

Nhận thức được giá trị của hành trình Thượng Hội đồng đã hoàn thành, giờ đây tôi giao cho toàn thể Giáo hội những chỉ dẫn được trình bày trong Văn kiện Chung kết, như một sự trao lại những gì đã chín muồi trong những năm tháng lắng nghe và phân định vừa qua, đồng thời như một hướng dẫn có thẩm quyền cho đời sống và sứ vụ của Giáo hội.

Văn kiện Chung kết sẽ trở thành một phần thuộc Huấn quyền thông thường của Vị kế nhiệm Thánh Phêrô (x. EC 18 §1; CCC 892), và với tư cách đó, tôi mời gọi anh chị em hãy đón nhận Văn kiện này. Văn kiên này đại diện cho một hình thức thực thi huấn quyền chính thức của Giám mục Rôma, với một số đặc điểm mới nhưng thực ra phù hợp với những gì tôi đã có cơ hội nhấn mạnh vào ngày 17 tháng 10 năm 2015, khi tôi tuyên bố rằng tính hiệp hành là khung diễn giải thích hợp để hiểu về thừa tác vụ phẩm trật.

Khi phê chuẩn Văn kiện Chung kết vào ngày 26 tháng 10 vừa qua, tôi đã nói rằng nó “không mang tính quy định nghiêm ngặt” và “việc áp dụng nó sẽ đòi hỏi nhiều sự điều chỉnh trung gian khác nhau”. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là nó không yêu cầu các Giáo hội ngay từ bây giờ phải đưa ra những quyết định phù hợp với các chỉ dẫn của Văn kiện. Các Giáo hội địa phương và các nhóm Giáo hội giờ đây được yêu cầu thực hiện, trong các bối cảnh khác nhau, những chỉ dẫn có thẩm quyền được trình bày trong Văn kiện, thông qua các tiến trình phân định và ra quyết định được trù liệu bởi luật và bởi chính Văn kiện này. Tôi cũng đã nói thêm rằng cần có thêm thời gian để đạt đến những quyết định liên quan đến toàn thể Giáo hội: điều này đặc biệt đúng đối với các chủ đề được giao cho mười nhóm nghiên cứu, và có thể thêm các chủ đề khác, nhằm có được các quyết định cần thiết. Việc kết thúc Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục không đánh dấu sự kết thúc của tiến trình hiệp hành.

Với niềm xác tín, tôi muốn nhắc lại ở đây điều mà tôi đã nêu ở cuối lộ trình Thượng Hội đồng được phối hợp chặt chẽ để dẫn đến việc ban hành Tông huấn Amoris Laetitia (ngày 19 tháng 3 năm 2016): "Không phải tất cả mọi tranh luận về đạo lý, luân lý hay mục vụ cần phải được giải quyết bằng can thiệp của Huấn quyền. Dĩ nhiên, trong Hội thánh cần một sự hiệp nhất về đạo lý và về thực hành, nhưng điều đó không ngăn cản việc có những giải thích khác nhau về một số khía cạnh của đạo lý hay một số những hệ luận nảy sinh từ đó. Sẽ là như thế cho đến khi Thần Khí dẫn đưa chúng ta đến chân lý toàn vẹn (x. Ga 16,13), tức là, khi Ngài đưa chúng ta đi vào trọn vẹn trong mầu nhiệm Chúa Kitô và khi chúng ta có thể thấy được tất cả mọi sự bằng cái nhìn của chính Chúa Kitô. Ngoài ra, trong mỗi xứ sở hay vùng miền, vẫn có thể tìm ra được những giải đáp thích hợp hơn với văn hóa của họ, quan tâm hơn đến các truyền thống và các thách thức mang tính địa phương” (AL 3).

Văn kiện Chung kết cũng bao gồm những chỉ dẫn mà – trong ánh sáng những định hướng căn bản của nó – hiện có thể được khai triển tại các Giáo hội địa phương và các nhóm Giáo hội. Việc thực hiện này cần chú ý đến những bối cảnh khác nhau, những điều đã đạt được và những gì vẫn còn cần thực hiện để học hỏi và phát triển ngày càng tốt hơn phong cách đặc trưng của một Giáo hội hiệp hành truyền giáo.

Trong nhiều trường hợp, vấn đề đặt ra là làm thế nào để thực thi hiệu quả những gì đã được quy định trong luật hiện hành, cả luật La tinh và Đông phương. Trong những trường hợp khác, thông qua việc phân định hiệp hành và trong khuôn khổ các khả năng được chỉ ra trong Văn kiện Chung kết, có thể tiến hành kích hoạt một cách sáng tạo các hình thức mới của việc thi hành thừa tác vụ và sứ vụ, bằng cách thử nghiệm và xem xét các kinh nghiệm để chứng thực. Trong báo cáo dự kiến dành cho chuyến viếng thăm ad limina, mỗi giám mục sẽ lưu ý báo cáo về các quyết định đã được đưa ra trong Giáo hội địa phương được ủy thác cho ngài liên quan đến các chỉ dẫn trong Văn kiện Chung kết, những khó khăn đã gặp phải và kết quả đạt được.

Nhiệm vụ đồng hành với "giai đoạn thực hiện" của hành trình hiệp hành, dựa trên các hướng dẫn được trình bày trong Văn kiện Chung kết, được ủy thác cho Văn phòng Tổng Thư ký của Thượng Hội đồng cùng với các Bộ của Giáo triều Rôma (x. EC 19-21).

Hành trình hiệp hành của Giáo hội Công giáo, cũng được thúc đẩy bởi khát vọng tiếp tục cuộc hành trình hướng tới sự hiệp nhất hữu hình và trọn vẹn của các Kitô hữu, “cần biến những tiếng nói chung thành hành động” (Diễn văn bế mạc Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, 26/10/2024). Nguyện xin Chúa Thánh Thần, là ân huệ của Đấng Phục Sinh, nâng đỡ và hướng dẫn toàn thể Giáo hội trên hành trình này. Nguyện xin Đấng là chính sự hòa hợp, tiếp tục làm cho Giáo hội được trẻ hóa bằng sức mạnh của Tin mừng, tiếp tục canh tân Giáo hội và dẫn đưa Giáo hội đến sự kết hợp hoàn toàn với Phu Quân của mình (x. LG 4). Vì Thần Khí và Tân Nương cùng thưa với Chúa Giêsu rằng: “Xin Ngài ngự đến” (x. Kh 22,17).

Vatican, ngày 24 tháng 11 năm 2024, Lễ Trọng kính Chúa Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ

Phanxicô

 

 

Giới thiệu

Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!”. Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa (Ga 20,19-20).

1. Trong đời sống Giáo hội, mỗi bước đi mới là một cuộc trở về nguồn, một kinh nghiệm đổi mới về cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh mà các môn đệ đã trải qua vào buổi chiều Phục sinh, tại Phòng Tiệc Ly. Giống như họ, chúng tôi cũng vậy, khi tham gia Đại hội Thượng Hội đồng này, chúng tôi cảm thấy được bao bọc nơi lòng Chúa xót thương, và được thu hút bởi vẻ đẹp của Người. Bằng cách thực hiện cuộc đối thoại trong Thánh Thần, bằng cách lắng nghe nhau, chúng tôi nhận ra sự hiện diện của Người ở giữa chúng tôi: sự hiện diện của Người, qua việc ban Thánh Thần, tiếp tục tạo ra nơi dân của Người một sự hiệp nhất vốn là sự hòa hợp giữa những khác biệt.

2. Khi chiêm ngưỡng Đấng Phục Sinh, chúng ta nhớ rằng “chúng ta đã được dìm vào nước thanh tẩy […] trong cái chết của Người” (Rm 6,3). Chúng ta đã nhìn thấy những vết thương nơi Người, những vết thương đã được biến đổi bởi sự sống mới, nhưng vẫn mãi được khắc ghi trong nhân tính của Người. Những vết thương này tiếp tục rỉ máu trên thân xác của nhiều anh chị em, cũng vì tội lỗi của chúng ta. Việc nhìn lên Chúa không tách chúng ta ra khỏi những bi kịch của lịch sử, nhưng mở mắt chúng ta để nhận ra những đau khổ bao quanh và thấm sâu vào chúng ta: khuôn mặt của những đứa trẻ kinh hoàng vì chiến tranh, tiếng khóc của những bà mẹ, những giấc mơ bị tan vỡ của nhiều người trẻ, những người tị nạn phải đối mặt với cuộc hành trình khủng khiếp, những nạn nhân của sự biến đổi khí hậu và của những bất công xã hội. Những đau khổ của họ vang vọng giữa chúng tôi không chỉ qua các phương tiện truyền thông, mà còn qua tiếng nói của nhiều người cùng tham dự Đại hội, những người có liên quan trực tiếp với gia đình và đồng bào của họ trong những biến cố bi thảm này. Trong những ngày chúng tôi quy tụ tại Đại hội này, nhiều cuộc chiến vẫn tiếp tục gây ra chết chóc và tàn phá, gây ra sự khao khát trả thù và sự táng tận lương tâm. Chúng tôi liên kết với Đức Thánh cha Phanxicô trong những lời kêu gọi hòa bình được lặp đi lặp lại của ngài, đó là lên án luận lý của bạo lực, hận thù, và trả thù, đồng thời dấn thân thúc đẩy luận lý của đối thoại, tình huynh đệ và sự hòa giải. Một nền hòa bình đích thực và bền vững là điều có thể thực hiện được, và chúng ta có thể xây dựng cùng nhau. “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và của bất cứ ai đang đau khổ” (GS 1) cũng là niềm vui nỗi buồn của tất cả chúng ta, những môn đệ Chúa Kitô.

3. Kể từ khi Đức Thánh cha khai mạc Thượng Hội đồng này vào năm 2021, chúng ta đã dấn bước vào một hành trình, trong đó chúng ta ngày càng khám phá ra sự phong phú và thành quả của nó. Chúng tôi đã bắt đầu bằng việc lắng nghe, chú ý nắm bắt trong nhiều tiếng nói về những điều mà “Thần Khí nói với các Hội thánh” (Kh 2,7). Cuộc hành trình bắt đầu với sự tham khảo rộng rãi ý kiến của Dân Thiên Chúa trong các giáo phận Công giáo và các giáo khu Công giáo Đông phương của chúng ta và sau đó tiếp tục qua các giai đoạn cấp quốc gia và châu lục. Chu trình đối thoại này liên tục được củng cố nhờ Văn phòng Tổng Thư ký của Thượng Hội đồng Giám mục thông qua các Báo cáo Tổng hợp và các Tài liệu Làm việc. Việc tiến hành Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục trong hai khóa họp cho phép chúng tôi giờ đây trình bày lên Đức Thánh cha và tất cả các Giáo hội chứng từ về những gì chúng tôi đã trải nghiệm và những thành quả phân định của chúng tôi, nhằm đem lại động lực mới cho sứ vụ. Trong mỗi giai đoạn, cuộc hành trình này được in dấu bởi sự khôn ngoan từ “cảm thức đức tin” (sensus fidei) của Dân Thiên Chúa. Từng bước, chúng tôi hiểu được rằng ở trọng tâm của Thượng Hội đồng 2021-2024 – Hướng tới một Giáo hội hiệp hành: hiệp thông, tham gia, sứ vụ – là lời kêu gọi hướng đến niềm vui và sự canh tân Giáo hội qua việc bước theo Chúa, qua sự dấn thân phục vụ cho sứ vụ của Người, và qua việc tìm kiếm những phương cách để trung thành với Người.

4. Lời kêu gọi này dựa trên căn tính chung được chia sẻ từ Bí tích Rửa tội. Nó được bắt nguồn từ tính đa dạng của các bối cảnh trong đó Giáo hội hiện diện và tìm thấy sự hiệp nhất trong cùng một Cha, một Thiên Chúa và một Thần Khí. Lời mời gọi này đặt ra thách đố đối với tất cả những ai đã nhận Phép rửa, không có ngoại lệ: “Tất cả Dân Thiên Chúa đều là chủ thể của việc loan báo Tin mừng. Trong đó, mọi người đã nhận Phép rửa đều được mời gọi trở thành tác nhân chủ yếu của sứ vụ, vì tất cả chúng ta đều là những môn đệ truyền giáo” (ITC 53). Vì vậy, hành trình hiệp hành hướng chúng ta đến sự hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình giữa các Kitô hữu, như các Đại biểu của các truyền thống Kitô giáo khác đã minh chứng bằng sự hiện diện của họ. Sự hiệp nhất dậy men âm thầm trong lòng Giáo hội thánh thiện của Thiên Chúa, cũng là lời tiên tri về sự hiệp nhất cho toàn thế giới.

5. Được bắt nguồn từ Truyền thống của Giáo hội, toàn bộ hành trình hiệp hành đã diễn ra trong ánh sáng của Giáo huấn Công đồng. Thật vậy, Công đồng Vaticanô II giống như một hạt giống được gieo vào cánh đồng thế giới và Giáo hội. Cuộc sống hằng ngày của các tín hữu, kinh nghiệm của các Giáo hội trong mỗi dân tộc và mỗi nền văn hóa, nhiều chứng từ về sự thánh thiện, và suy tư của các nhà thần học là những mảnh đất để hạt giống đó nảy mầm và phát triển. Thượng Hội đồng 2021-2024 tiếp tục nuôi dưỡng hạt giống này và phát huy tiềm năng của nó, áp dụng nó vào thực tế theo như những gì Công đồng đã dạy về Giáo hội như là Mầu nhiệm và như là Dân Thiên Chúa, được mời gọi nên thánh thông qua một cuộc hoán cải liên tục xuất phát từ việc lắng nghe Tin mừng. Theo nghĩa này, hành trình hiệp hành là một hành động tiếp nhận Công đồng cách sâu xa hơn, và từ đó, đào sâu thêm nguồn cảm hứng của Công đồng và tiếp thêm sức mạnh cho tính ngôn sứ của Công đồng đối với thế giới ngày nay.

6. Chúng tôi không che giấu sự thật rằng chúng tôi đã cảm thấy nơi mình sự mệt mỏi, thái độ chống lại sự thay đổi và cám dỗ để những ý tưởng của riêng mình lấn át việc lắng nghe Tin mừng và việc thực hành sự phân định. Tuy nhiên, lòng thương xót của Thiên Chúa, Người Cha đầy dịu dàng, cho phép chúng tôi luôn thanh tẩy tâm hồn và tiếp tục cuộc hành trình. Chúng tôi đã nhận ra điều này khi bắt đầu khóa họp thứ hai của Đại hội với buổi canh thức sám hối, trong đó chúng tôi cảm thấy xấu hổ và cầu xin sự tha thứ cho những tội lỗi của chúng tôi, đồng thời cũng cầu nguyện cho các nạn nhân của những sự dữ trên thế giới. Chúng tôi gọi đích danh từng tội của mình, đó là: chống lại hòa bình, chống lại các thụ tạo, chống lại người dân bản xứ, người di cư, trẻ em, phụ nữ, người nghèo, chống lại việc lắng nghe và hiệp thông. Điều này giúp chúng tôi nhận ra rằng tính hiệp hành đòi hỏi sự sám hối và hoán cải. Khi cử hành Bí tích của Lòng Chúa Thương Xót, chúng tôi cảm nghiệm mình được yêu thương vô điều kiện: sự chai cứng của tâm hồn đã được vượt qua, và điều này mở ra cho chúng tôi sự hiệp thông. Đây là lý do tại sao chúng tôi muốn trở thành một Giáo hội đầy lòng thương xót, có khả năng chia sẻ với mọi người sự tha thứ và hòa giải đến từ Thiên Chúa: đó là một ân sủng thuần khiết mà chúng tôi không phải là chủ nhân mà chỉ là những chứng nhân.

7. Chúng tôi đã có thể nhìn thấy những thành quả đầu tiên của hành trình hiệp hành bắt đầu vào năm 2021. Những điều đơn giản nhất nhưng quý giá nhất, đó là sự trưởng thành trong đời sống của các gia đình, các giáo xứ, các hiệp hội và phong trào, các cộng đoàn Kitô hữu nhỏ, các trường học và các cộng đoàn tu sĩ, trong đó việc thực hành đối thoại trong Thánh Thần, việc cùng nhau phân định, việc chia sẻ các hồng ân ơn gọi và tinh thần đồng trách nhiệm trong sứ vụ đang gia tăng. Cuộc gặp gỡ của các cha xứ để chuẩn bị cho Thượng Hội đồng (diễn ra tại Sacrofano, Rome], từ 28 tháng 4 đến 02 tháng 5 năm 2024) đã giúp chúng tôi biết trân trọng những kinh nghiệm phong phú kể trên và canh tân cuộc hành trình. Chúng tôi biết ơn và vui mừng trước những tiếng nói của nhiều cộng đoàn và các tín hữu cảm nhận Giáo hội là nơi của sự tiếp đón, hy vọng và niềm vui.

8. Khóa họp thứ nhất của Đại hội đã mang lại nhiều kết quả khác nữa. Bản Báo cáo Tổng hợp của khóa họp này hướng sự chú ý đến một số chủ đề có tầm quan trọng lớn đối với đời sống của Giáo hội. Đức Thánh cha, sau cuộc thỉnh ý cấp quốc tế, đã giao phó các chủ đề này cho các nhóm nghiên cứu gồm các mục tử và chuyên gia từ khắp các châu lục, họ được kêu gọi làm việc theo phương pháp hiệp hành. Các lĩnh vực đời sống và sứ vụ của Giáo hội mà họ đã bắt đầu đào sâu là:

1) Một số khía cạnh trong mối tương quan giữa Giáo hội Công giáo Đông phương và Giáo hội La tinh.

2) Việc lắng nghe tiếng kêu của người nghèo và của trái đất.

3) Sứ vụ trong môi trường kỹ thuật số.

4) Việc tu chỉnh Quy chế Đào tạo Linh mục (Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis) trong viễn tượng hiệp hành truyền giáo.

5) Một số vấn đề thần học và giáo luật liên quan đến các hình thức thừa tác vụ chuyên biệt.

6) Việc tu chỉnh, trong viễn tượng hiệp hành truyền giáo, các văn kiện quy định những mối tương quan giữa các giám mục, các tu sĩ đời sống thánh hiến, và các đoàn thể Giáo hội.

7) Một số khía cạnh về con người và thừa tác vụ của giám mục (đặc biệt: các tiêu chí lựa chọn ứng viên vào hàng giám mục, chức năng tư pháp của giám mục, bản chất và cơ cấu các chuyến viếng thăm ad limina) từ viễn tượng hiệp hành truyền giáo.

8) Vai trò của các vị Đại diện Giáo hoàng trong viễn tượng hiệp hành truyền giáo.

9) Các tiêu chí thần học và các phương pháp hiệp hành cho việc phân định chung các vấn đề đang tranh luận về tín lý, mục vụ và đạo đức.

10) Việc tiếp nhận những thành quả của hành trình đại kết trong Dân Thiên Chúa.

Ngoài các nhóm này còn có Ủy ban Giáo luật, được thành lập với sự đồng ý của Bộ về các Bản văn Luật, nhằm phục vụ cho những đổi mới cần thiết trong các quy định Giáo hội. Ngoài ra, việc phân định liên quan đến việc đồng hành mục vụ với những người trong hoàn cảnh hôn nhân đa thê được ủy thác cho Hội nghị chuyên đề (Symposium) của các Hội đồng Giám mục Phi châu và Madagascar. Công việc của các nhóm và các ủy ban này đã bắt đầu giai đoạn triển khai, đã làm phong phú thêm công việc của khóa họp thứ hai, và sẽ giúp Đức Thánh cha trong các quyết định mục vụ và quản trị.

9. Tiến trình hiệp hành không kết thúc khi Đại hội hiện tại của Thượng Hội đồng Giám mục khép lại, mà còn bao gồm cả giai đoạn thực thi. Với tư cách là thành viên của Đại hội và là thừa sai hiệp hành trong các cộng đoàn sở tại của mình, chúng tôi ý thức trách nhiệm trong việc thúc đẩy tiến trình này. Các Giáo hội địa phương được mời gọi tiếp tục cuộc hành trình hằng ngày với phương pháp thỉnh ý và phân định theo phong cách hiệp hành, xác định các đường lối cụ thể và các tiến trình đào tạo để đạt được một sự hoán cải hiệp hành hữu hình trong các thực tại khác nhau của Giáo hội (các giáo xứ, các hội dòng đời sống thánh hiến và các tu đoàn đời sống Tông đồ, các hiệp hội và phong trào giáo dân, các giáo phận, các Hội đồng Giám mục, các nhóm Giáo hội, v.v...).. Cũng phải thực hiện việc lập kế hoạch để đánh giá sự tiến bộ đạt được về tính hiệp hành và về sự tham gia vào đời sống Giáo hội của tất cả những người đã nhận Phép rửa. Chúng tôi đề nghị các Hội đồng Giám mục và các Thượng Hội đồng của các Giáo hội tự trị [sui iuris] phân bổ nhân sự và các nguồn lực để đồng hành với lộ trình phát triển Giáo hội như là Giáo hội hiệp hành trong sứ vụ, và đồng thời để duy trì liên lạc với Văn phòng Tổng Thư ký của Thượng Hội đồng (x. EC 19 § 1 và 2). Chúng tôi yêu cầu Văn phòng Tổng Thư ký tiếp tục giám sát chất lượng hiệp hành trong phương pháp làm việc của các nhóm nghiên cứu.

10. Như là thành quả của Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XVI được trình lên Đức Thánh cha và trao gửi cho các Giáo hội, Văn kiện Chung kết này đúc kết từ tất cả các bước đã được thực hiện cho đến nay. Văn kiện tập hợp những điểm đồng thuận quan trọng được hình thành từ trong Khóa họp thứ nhất, từ những đóng góp của các Giáo hội trong những tháng giữa Khóa họp thứ nhất và Khóa họp thứ hai, và từ những gì đã được chín muồi, đặc biệt là từ việc đối thoại trong Thánh Thần diễn ra trong Khóa họp thứ hai.

11. Văn kiện Chung kết diễn tả ý thức rằng lời mời gọi thi hành sứ vụ cũng đồng thời là lời mời gọi hoán cải đối với từng Giáo hội địa phương, cũng như toàn thể Giáo hội, theo cùng viễn tượng được nêu trong Tông huấn Evangelii gaudium (x. EG 30). Văn kiện có năm phần. Phần thứ nhất, có tựa đề “Trọng tâm của tính hiệp hành”, phác thảo các nền tảng thần học và linh đạo nhằm soi sáng và trợ lực cho những phần tiếp theo. Nó nêu lại nhận thức chung về tính hiệp hành đã được xuất hiện trong Khóa họp thứ nhất, đồng thời phát triển các viễn tượng ngôn sứ và linh đạo của tính hiệp hành. Việc hoán cải những cảm xúc, hình ảnh và suy nghĩ tồn tại trong tâm hồn chúng ta diễn ra song hành với việc hoán cải hoạt động mục vụ và truyền giáo. Phần thứ hai, mang tựa đề “Cùng nhau trên thuyền”, được dành riêng để nói về sự hoán cải trong các mối tương quan được hình thành qua sự đan xen của các ơn gọi, các đặc sủng và các thừa tác vụ, nhằm xây dựng cộng đoàn Kitô hữu và định hình sứ vụ của Giáo hội. Phần thứ ba, “Thả lưới”, xác định ba thực hành nối kết mật thiết với nhau: sự phân định mang chiều kích Giáo hội, các tiến trình đưa ra quyết định, và một nền văn hóa của tính minh bạch, việc giải trình và sự đánh giá. Về những khía cạnh này, chúng ta cũng được yêu cầu khởi xướng những lộ trình của “sự chuyển đổi truyền giáo”, theo đó việc canh tân các tổ chức tham gia là điều cấp thiết. Phần thứ tư, với tựa đề “Một mẻ lưới đầy”, phác thảo cách chúng ta có thể vun đắp những hình thức mới trong việc trao đổi hồng ân và canh tân sự gắn kết giữa các mối dây liên kết chúng ta trong Giáo hội, đặc biệt trong bối cảnh trải nghiệm về sự gắn bó với địa phương đang thay đổi sâu sắc. Tiếp theo là phần thứ năm, “Thầy cũng sai anh em”, giúp chúng ta nhận thấy bước cụ thể đầu tiên cần thực hiện, đó là chăm lo việc đào tạo cho tất cả mọi người, cho toàn thể Dân Thiên Chúa, để tất cả trở thành những thừa sai hiệp hành.

12. Việc soạn thảo Văn kiện Chung kết được hướng dẫn bởi các trình thuật Tin mừng về sự Phục sinh. Việc chạy đến ngôi mộ vào lúc sáng sớm ngày Phục sinh, việc Chúa Phục Sinh hiện ra trong Phòng Tiệc Ly và trên bờ Biển Hồ đã truyền cảm hứng cho sự phân định của chúng tôi và nâng đỡ cuộc đối thoại của chúng tôi. Chúng tôi cầu xin hồng ân Phục sinh từ Chúa Thánh Thần, kêu xin Ngài dạy cho chúng tôi biết những gì phải làm và chỉ cho chúng tôi con đường để cùng nhau tiến bước. Với văn kiện này, Đại hội nhìn nhận và làm chứng rằng tính hiệp hành, một chiều kích cấu thành Giáo hội, vốn là một phần kinh nghiệm của nhiều cộng đoàn chúng ta. Đồng thời, văn kiện này cũng đề xuất những nẻo đường để tiến bước, những thực hành để triển khai, những chân trời để khám phá. Đức Thánh cha, người đã triệu tập Giáo hội tại Thượng Hội đồng này, sẽ hướng dẫn các Giáo hội - được ủy thác cho các giám mục trong việc săn sóc mục vụ - về cách thức tiếp tục cuộc hành trình của chúng ta, một cuộc hành trình được nâng đỡ bởi niềm hy vọng “không làm thất vọng” (Rm 5,5).

 

Phần I – TRỌNG TÂM CỦA TÍNH HIỆP HÀNH

Được Chúa Thánh Thần kêu gọi hoán cải

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến (Ga 20,1-2).

13. Vào buổi sáng Phục sinh, chúng ta gặp ba môn đệ: Maria Mácđala, Simon Phêrô, và người môn đệ Chúa Giêsu thương mến. Mỗi người tìm kiếm Chúa theo cách riêng của mình; mỗi người đều có một vai trò trong việc giúp ánh sáng hy vọng bừng lên. Maria Mácđala được tình yêu thúc đẩy và chỉ dẫn, chị đến mộ trước tiên. Được chị báo tin, Phêrô và người môn đệ Chúa yêu đi ra mộ; người môn đệ được Chúa yêu chạy nhanh với tất cả sức mạnh của tuổi trẻ. Anh nhìn chăm chú; anh là người đầu tiên hiểu ra, nhưng anh nhường bước cho Phêrô, người lớn tuổi hơn, được trao trách nhiệm lãnh đạo.; Phêrô, lòng nặng trĩu vì đã chối Chúa, đang có cuộc hẹn với lòng thương xót – lòng thương xót mà ông sẽ là thừa tác viên thi hành trong Giáo hội. Maria vẫn ở trong vườn, nghe gọi chính tên mình, chị nhận ra Chúa, Đấng sai chị đi loan báo sự phục sinh của Người cho cộng đoàn các môn đệ. Vì lý do này, Giáo hội nhìn nhận chị là Tông đồ của các tông đồ. Sự phụ thuộc lẫn nhau của họ thể hiện trọng tâm của tính hiệp hành.

14. Giáo hội hiện hữu để làm chứng cho thế giới về biến cố mang tính quyết định trong lịch sử: sự phục sinh của Chúa Giêsu. Chúa Phục Sinh mang lại bình an cho thế giới và ban cho chúng ta hồng ân là Thánh Thần của Người. Chúa Kitô hằng sống là nguồn tự do đích thực, là nền tảng của niềm hy vọng không làm thất vọng, là sự mặc khải về dung mạo đích thực của Thiên Chúa và về vận mệnh cuối cùng của con người. Các Tin mừng dạy chúng ta rằng để bước vào đức tin Phục sinh và trở thành chứng nhân của đức tin này, mỗi người cần phải nhận ra sự trống rỗng nội tâm mình, đó là bóng tối của sự sợ hãi, hoài nghi và tội lỗi. Nhưng những ai ở trong bóng tối mà có can đảm ra đi tìm kiếm, thì họ sẽ khám phá ra rằng chính mình mới là người đang được tìm kiếm. Họ được gọi đích danh, được tha thứ và đến lượt mình, họ cũng được sai đi cùng với các anh chị em mình.

 

Giáo hội như là Dân Thiên Chúa, Bí tích của sự hiệp nhất

15. Căn tính của Dân Thiên Chúa bắt nguồn từ Bí tích Rửa tội nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Căn tính này cần phải được sống như một lời mời gọi nên thánh và như một việc sai đi trong sứ vụ kêu gọi mọi dân tộc đón nhận hồng ân cứu độ (x. Mt 28,18-19). Giáo hội hiệp hành truyền giáo được khai sinh từ Bí tích Rửa tội, trong đó Đức Kitô cho chúng ta mặc lấy chính Người (x. Gl 3,27) và làm cho chúng ta được tái sinh bởi Thần Khí (x. Ga 3,5-6) trở nên con cái Thiên Chúa. Toàn bộ đời sống Kitô hữu có nguồn cội và đích điểm trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm khơi dậy nơi chúng ta sức sống của đức tin, đức cậy và đức mến.

16. “Thiên Chúa muốn thánh hóa và cứu độ con người không như những cá nhân riêng rẽ không chút liên đới với nhau, nhưng Ngài muốn làm cho họ thành một dân tộc để họ nhận biết Ngài trong chân lý và phụng sự Ngài trong thánh thiện” (LG 9). Dân Thiên Chúa trên hành trình tiến về Nước Trời được nuôi dưỡng không ngừng bằng Bí tích Thánh Thể, nguồn mạch của hiệp thông và hiệp nhất: “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10,17). Giáo hội, được nuôi dưỡng bởi Bí tích Thánh Thể, được thiết lập như Thân Mình của Người (x. LG 7): “Anh em là thân thể Đức Kitô, và mỗi người là một bộ phận” (1Cr 12,27). Được ân sủng làm sống động, Giáo hội là một đền thờ của Chúa Thánh Thần (x. LG 4): Thực vậy, chính Chúa Thánh Thần là Đấng làm sống động và xây dựng Giáo hội, làm cho tất cả chúng ta trở nên những viên đá sống động của ngôi Đền thờ thiêng liêng (x. 1Pr 2,5; LG 6).

17. Tiến trình Thượng Hội đồng đã giúp chúng tôi trải nghiệm “hương vị thiêng liêng” (EG 268) trong tư cách là Dân Thiên Chúa khi được quy tụ từ mọi sắc tộc, ngôn ngữ, dân tộc và quốc gia, sống trong những bối cảnh và những nền văn hóa khác nhau. Dân Thiên Chúa không bao giờ đơn giản chỉ là tổng số những người đã nhận được rửa tội, nhưng là chủ thể mang tính cộng đoàn và tính lịch sự, là chủ thể của tính hiệp hành và sứ vụ, vẫn còn lữ hành trong thời gian và đã hiệp thông với Giáo hội trên trời. Trong những bối cảnh khác nhau mà các Giáo hội địa phương bén rễ, Dân Thiên Chúa loan báo và làm chứng cho Tin mừng cứu độ; sống trong thế giới và cho thế giới, Dân Thiên Chúa cùng bước đi với mọi dân tộc trên trái đất, đối thoại với các tôn giáo và các nền văn hóa, nhận ra trong đó những hạt giống của Lời, và tiến về Nước Trời. Được tháp nhập vào Dân Thiên Chúa bằng đức tin và Bí tích Rửa tội, chúng ta được nâng đỡ và đồng hành bởi Đức Trinh Nữ Maria “như dấu chỉ của lòng cậy trông vững vàng và niềm an ủi” (LG 68), bởi các Tông đồ, bởi những người đã làm chứng cho đức tin của mình đến mức trao hiến mạng sống, và bởi các thánh ở mọi nơi và mọi thời.

18. Trong Dân thánh của Thiên Chúa là Giáo hội, sự hiệp thông của các tín hữu (communio Fidelium) cũng là sự hiệp thông của các Giáo hội (communio Ecclesiarum), được thể hiện trong sự hiệp thông của các giám mục (communio Episcoporum), bởi chính nguyên tắc cổ xưa là “Giáo hội ở trong giám mục và giám mục ở trong Giáo hội” (Thánh Cyprianô, Thư 66, 8). Chúa đã đặt Tông đồ Phêrô (x. Mt 16,18) và những vị kế nhiệm ngài để phục vụ sự hiệp thông đa diện này. Nhờ thừa tác vụ Phêrô, Giám mục Rôma là “nguyên lý và nền tảng vĩnh viễn và hữu hình” (LG 23) của sự hiệp nhất Giáo hội.

19. “Trong trái tim của Thiên Chúa có một chỗ đặc biệt cho người nghèo” (EG 197), những người bị gạt ra ngoài lề xã hội và những người bị loại trừ. Do đó, họ cũng ở trong trái tim của Giáo hội. Nơi họ, cộng đoàn Kitô hữu gặp được dung mạo và thân mình của Chúa Kitô, Đấng vốn giàu có nhưng đã trở nên nghèo khó vì chúng ta, để chúng ta có thể trở nên giàu có nhờ sự nghèo khó của Người (x. 2Cr 8,9). Việc ưu tiên lựa chọn người nghèo vốn tiềm ẩn trong đức tin về Đức Kitô. Người nghèo có sự hiểu biết trực tiếp về Đức Kitô đau khổ (x. EG, số 198), điều này làm cho họ trở thành những sứ giả của ơn cứu độ được đón nhận như một hồng ân, và là những chứng nhân của niềm vui Tin mừng. Giáo hội được kêu gọi trở nên nghèo với người nghèo - thường là thành phần chiếm đa số trong các tín hữu - và lắng nghe họ, cùng học với họ cách nhận ra các đặc sủng mà họ được Chúa Thánh Thần ban cho. Giáo hội cũng cần học để nhìn nhận họ như là những tác nhân của việc loan báo Tin mừng.

20. “Đức Kitô là ánh sáng muôn dân” (LG 1) và ánh sáng này chiếu trên khuôn mặt của Giáo hội, ngay cả dù bị in dấu bởi sự mong manh của thân phận con người và bị che mờ bởi tội lỗi. Giáo hội nhận được từ Chúa Kitô hồng ân và trách nhiệm để trở thành chất men hữu hiệu của các mối liên kết, các mối tương quan và tình huynh đệ của gia đình nhân loại (x. AG 2-4), để làm chứng về ý nghĩa và mục đích cuộc hành trình của Giáo hội trong thế giới (x. GS 3 và 42). Ngày nay, Giáo hội đảm nhận trách nhiệm này trong một thời đại bị đè nặng bởi cơn khủng hoảng về sự tham gia, nghĩa là cơn khủng hoảng khi nhiều người cảm thấy mình không phải là một phần hay là tác nhân của một vận mệnh chung, và bởi lối hiểu mang tính cá nhân chủ nghĩa về hạnh phúc và ơn cứu độ. Ơn gọi và việc thi hành chức vụ ngôn sứ của Giáo hội (x. LG, số 12) cốt ở việc làm chứng cho kế hoạch của Thiên Chúa nhằm hiệp nhất toàn thể nhân loại với Ngài trong sự tự do và hiệp thông. Giáo hội, là “vương quốc Chúa Kitô đang hiện diện cách mầu nhiệm” (LG 3), và “là hạt mầm và điểm khai nguyên của vương quốc ấy trên trần gian” (LG 5). Do đó, Giáo hội cùng bước đi với toàn thể nhân loại, dấn thân với tất cả năng lực của mình cho công lý và hòa bình, cho phẩm giá con người và công ích. Thực thi tất cả điều này, trong khi Giáo hội “khát mong vương quốc ấy được thành toàn” (LG 5), khi Thiên Chúa “có toàn quyền trên muôn loài” (1Cr 15,28).

 

Những gốc rễ mang tính bí tích của Dân Thiên Chúa

21. Hành trình hiệp hành của Giáo hội đã dẫn chúng ta đến việc tái khám phá gốc rễ của sự đa dạng về các đặc sủng, các ơn gọi và các thừa tác vụ: “Tất cả chúng ta đều đã nhận Phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể [...] Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12,13). Bí tích Rửa tội là nền tảng của đời sống Kitô hữu, bởi vì chính nhờ bí tích này, mọi người được dẫn vào hồng ân cao cả nhất, đó là trở thành con cái Thiên Chúa, tức là được tham dự vào mối tương quan của Chúa Giêsu với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Không có gì cao trọng hơn phẩm giá phát xuất từ Bí tích Rửa tội vốn được trao ban cách bình đẳng cho mọi người, qua đó chúng ta được mời gọi mặc lấy Đức Kitô và được tháp nhập vào Người như những cành nho gắn liền với cây nho duy nhất. Danh xưng “Kitô hữu”, mà chúng ta vinh dự được mang, hàm chứa ân sủng làm nền tảng cho đời sống chúng ta và giúp chúng ta bước đi cùng nhau như anh chị em

22. Nhờ Bí tích Rửa tội, “Dân thánh của Thiên Chúa cũng tham dự vào chức vụ ngôn sứ của Đức Kitô, bằng cách thể hiện khắp nơi chứng từ sống động về Người cách đặc biệt bằng đời sống đức tin và đức ái” (LG 12). Việc được xức dầu bởi Chúa Thánh Thần khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội (x. 1 Ga 2,20.27) giúp mọi tín hữu có một bản năng về chân lý của Tin mừng. Điều này được gọi là cảm thức đức tin (sensus fidei). Cảm thức này hệ tại ở một sự tương hợp nào đó với các thực tại thần linh, dựa trên sự thật rằng, trong Chúa Thánh Thần, người đã nhận Phép rửa được “thông phần vào bản tính Thiên Chúa” (DV 2). Chính nhờ sự thông phần này mà người tín hữu có khả năng nắm bắt bằng trực giác những gì phù hợp với chân lý mạc khải trong sự hiệp thông của Giáo hội. Vì thế, Giáo hội xác tín rằng Dân thánh của Thiên Chúa không thể sai lầm trong đức tin, họ biểu lộ thuộc tính đặc biệt này khi họ đều đồng thuận về những điều liên quan đến đức tin và phong hoá (x. LG 12). Tuy nhiên, việc thực thi cảm thức đức tin không được nhầm lẫn với dư luận công chúng. Cảm thức đức tin luôn gắn liền với sự phân định của các mục tử ở các cấp độ khác nhau trong đời sống Giáo hội, như được minh chứng qua các giai đoạn liên kết chặt chẽ của tiến trình Thượng Hội đồng. Cảm thức đức tin nhắm tới việc đạt được sự đồng tâm nhất trí của các tín hữu (consensus fidelium), điều này tạo nên “một tiêu chí chắc chắn để xác định liệu một giáo lý hay một thực hành cụ thể có thuộc về đức tin tông truyền hay không” (ITC, Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo hội, 2014, 3).

 23. Qua Bí tích Rửa tội, mọi Kitô hữu đều tham dự vào cảm thức đức tin. Vì vậy, cùng với việc là nguyên tắc của tính hiệp hành, Bí tích Rửa tội còn làm nên nền tảng cho đại kết. “Hành trình hiệp hành mà Giáo hội Công giáo đang đi là hành trình thiết yếu có tính đại kết, cũng như hành trình đại kết thiết yếu có tính hiệp hành” (Đức Thánh cha Phanxicô, Diễn từ nói với Đức Thượng phụ Mar Awa III, ngày 19 tháng 11 năm 2022). Đại kết trước hết là vấn đề canh tân linh đạo. Nó đòi hỏi những tiến trình sám hối và chữa lành ký ức về những vết thương trong quá khứ, cho đến sự can đảm sửa sai huynh đệ trong tinh thần bác ái theo Tin mừng. Đại hội này đầy ắp những chứng từ có sức soi sáng từ các Kitô hữu thuộc các truyền thống Giáo hội khác nhau, những người chia sẻ tình bạn và việc cầu nguyện, cùng sống chung trong cộng đoàn, dấn thân phục vụ những người đang sống trong nhiều hình thức nghèo khổ khác nhau và chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta. Hơn hết, có sự đại kết bằng máu ở nhiều nơi trên thế giới: các Kitô hữu thuộc các nguồn gốc khác nhau cùng trao hiến mạng sống mình vì đức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Chứng từ tử đạo của họ hùng hồn hơn bất cứ lời nào: đó là sự hiệp nhất bắt nguồn từ Thánh giá của Chúa.

24. Không thể hiểu đầy đủ về Bí tích Rửa tội nếu không đặt nó trong bối cảnh của tiến trình Khai tâm Kitô giáo, nghĩa là hành trình qua đó, nhờ vào thừa tác vụ của Giáo hội và ân sủng của Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta vào đức tin Phục sinh và đưa chúng ta vào sự hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa, cũng như với Giáo hội. Hành trình này có nhiều hình thức khác nhau tùy vào: độ tuổi mà người lãnh nhận bắt đầu, những điểm nhấn khác nhau giữa truyền thống Đông phương và Latinh, cũng như các đặc điểm riêng của từng Giáo hội địa phương. Tiến trình Khai tâm Kitô giáo giúp người tín hữu tiếp xúc với nhiều ơn gọi và thừa tác vụ khác nhau trong Giáo hội. Qua đó, Giáo hội bày tỏ dung mạo đầy lòng thương xót của mình, một Giáo Hội, như người mẹ dạy dỗ con cái mình bước đi bằng cách bước đi cùng với chúng. Giáo hội lắng nghe những người đang trong tiến trình khai tâm, giải đáp những nghi ngờ và thắc mắc của họ, đồng thời Giáo hội cũng được làm phong phú thêm nhờ những điều mới mẻ mà mỗi cá nhân mang lại qua lịch sử và nền văn hóa của riêng mình. Trong thực hành việc mục vụ này, cộng đoàn Kitô hữu đang trải nghiệm hình thức đầu tiên của tính hiệp hành, dù điều này thường xuyên không được nhận thức đầy đủ.

25. Trong hành trình Khai tâm Kitô giáo, Bí tích Thêm sức làm phong phú đời sống tín hữu nhờ hồng ân đặc biệt của Chúa Thánh Thần, giúp họ trở thành những chứng nhân của đức tin. Thánh Thần mà Chúa Giêsu được tràn đầy (x. Lc 4,1), Đấng đã xức dầu và sai Người đi loan báo Tin mừng (x. Lc 4,18), cũng chính là Thánh Thần được tuôn đổ trên các tín hữu như dấu ấn của sự thuộc về Thiên Chúa và như việc xức dầu để thánh hóa. Vì lý do này, Bí tích Thêm Sức làm cho ân sủng Lễ Hiện Xuống trở nên hiện diện trong đời sống của người đã lãnh Bí tích Rửa tội và của cộng đoàn. Bí tích này là một hồng ân có giá trị lớn lao để tái hiện phép lạ của một Giáo hội được thúc đẩy bởi ngọn lửa sứ vụ, có can đảm để ra đi đến vào các nẻo đường của thế giới, và có khả năng làm cho mình được nhận hiểu bởi mọi dân tộc và mọi nền văn hóa. Mọi tín hữu đều được kêu gọi đóng góp vào động lực này qua việc đón nhận các đặc sủng mà Chúa Thánh Thần ban phát dồi dào cho mỗi người, và dấn thân dùng các đặc sủng ấy để phục vụ Nước Thiên Chúa, với lòng khiêm nhường và năng lực sáng tạo phong phú.

26. Việc cử hành Bí tích Thánh Thể, đặc biệt vào ngày Chúa nhật, là cách thức đầu tiên và cơ bản để Dân thánh của Thiên Chúa quy tụ và gặp gỡ nhau. Việc cử hành Thánh Thể “vừa diễn tả vừa thực hiện sự hiệp nhất của Giáo hội” (UR 2). Trong sự tham dự “cách trọn vẹn, ý thức và tích cực” (SC 14) của mọi tín hữu, trong sự hiện diện của các thừa tác vụ khác nhau và dưới sự chủ tọa của giám mục hoặc linh mục, cộng đoàn Kitô hữu trở nên hữu hình, trong đó tính đồng trách nhiệm trong sự khác biệt của mọi tín hữu đối với sứ vụ được thể hiện. Vì lý do này, Giáo hội, là Thân Thể Chúa Kitô, học từ Bí tích Thánh Thể để diễn tả sự hiệp nhất và đa dạng: sự hiệp nhất của Giáo hội và tính đa dạng của các cộng đoàn Thánh Thể; sự hiệp nhất của mầu nhiệm bí tích và sự đa dạng của các truyền thống phụng vụ; sự hiệp nhất của việc cử hành và sự đa dạng của các ơn gọi, các đặc sủng và các thừa tác vụ. Trên hết, Bí tích Thánh Thể chứng tỏ rằng sự hài hòa do Thánh Thần tạo ra không phải là sự đồng nhất, và rằng mọi hồng ân trong Giáo hội đều nhằm phục vụ lợi ích chung của tất cả mọi người. Mỗi cử hành Thánh Thể cũng chính là một cách diễn tả ước muốn và lời kêu gọi sự hiệp nhất của tất cả những người đã nhận Phép rửa, một mối hiệp nhất vốn chưa được trọn vẹn và hữu hình. Nơi nào không thể cử hành Thánh Thể vào ngày Chúa nhật, thì cộng đoàn, với lòng khát khao điều đó, vẫn quy tụ quanh việc cử hành Lời Chúa, nơi đó Đức Kitô vẫn đang hiện diện.

27. Có một mối liên kết chặt chẽ giữa synaxis và synodos, tức là giữa cuộc quy tụ cử hành Thánh Thể và cuộc quy tụ Đại hội Thượng Hội đồng. Mặc dù dưới những hình thức khác nhau, nhưng trong cả hai trường hợp, đều có sự ứng nghiệm của lời hứa về sự hiện diện của Chúa Giêsu nơi có hai hoặc ba người tụ họp lại nhân danh Người (x. Mt 18,20). Các cuộc quy tụ Đại hội Thượng Hội đồng là những sự kiện để cử hành sự kết hợp của Đức Kitô với Giáo hội của Người nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần là Đấng bảo đảm sự hiệp nhất nơi Giáo hội là Thân Thể Chúa Kitô trong cuộc quy tụ cử hành Thánh Thể cũng như trong cuộc quy tụ Đại hội Thượng Hội đồng. Phụng vụ là việc lắng nghe Lời Chúa và đáp lại sáng kiến giao ước của Ngài. Tương tự, cuộc quy tụ Đại hội Thượng Hội đồng cũng là việc lắng nghe cùng một Lời ấy, Lời vang vọng trong các dấu chỉ thời đại cũng như trong tâm hồn các tín hữu, và cũng là một sự đáp lại của cộng đoàn đang phân định thánh ý Thiên Chúa để đem ra thực hành. Việc đào sâu mối liên kết giữa phụng vụ và tính hiệp hành sẽ giúp tất cả các cộng đoàn Kitô hữu - trong sự đa dạng của các nền văn hóa và các truyền thống của họ - tiếp nhận các cách thức cử hành phụng vụ làm cho dung mạo một Giáo hội hiệp hành trở nên hữu hình. Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi yêu cầu thành lập một nhóm nghiên cứu chuyên biệt. Nhóm này sẽ được ủy thác cho việc suy tư về cách thức làm cho các cử hành phụng vụ có sức diễn tả tính hiệp hành nhiều hơn. Nhóm này cũng có thể xem xét chủ đề giảng thuyết trong các cử hành phụng vụ, cũng như phát triển các tài liệu giáo lý về tính hiệp hành theo viễn tượng giáo lý dẫn vào mầu nhiệm (mystagogical).

 

Ý nghĩa và các chiều kích của tính hiệp hành

28. Các thuật ngữ “tính hiệp hành” (synodality) và “hiệp hành” (synodal) bắt nguồn từ thực hành lâu đời và liên tục của Giáo hội về việc tập hợp lại trong các công nghị. Theo truyền thống của cả Giáo hội Đông phương và Tây phương, từ “synod” (thượng hội đồng) dùng để chỉ các cơ cấu và các sự kiện đã phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau theo dòng thời gian, với sự tham gia của nhiều thành phần và nhiều đại diện khác nhau. Dù có sự đa dạng này, nhưng điểm chung giữa các hình thức này là sự quy tụ để đối thoại, phân định và đưa ra quyết định. Nhờ kinh nghiệm của những năm gần đây, ý nghĩa của các thuật ngữ này đã được hiểu rõ hơn và được trải nghiệm nhiều hơn. Chúng ngày càng liên kết sâu sắc với ước muốn về một Giáo hội gần gũi hơn với mọi người và có tính tương quan nhiều hơn, một Giáo hội là nhà và gia đình của Thiên Chúa. Trong quá trình diễn ra Thượng Hội đồng, có một sự đồng thuận đã chín muồi về ý nghĩa của tính hiệp hành, vốn là nền tảng của văn kiện này. Tính hiệp hành là sự bước đi cùng nhau của các Kitô hữu với Đức Kitô và hướng tới Vương quốc của Thiên Chúa, trong sự gắn kết với toàn thể nhân loại. Trong định hướng cho sứ vụ, tính hiệp hành bao hàm việc quy tụ ở mọi cấp độ trong Giáo hội để cùng lắng nghe, đối thoại và phân định cộng đoàn. Tính hiệp hành cũng bao hàm việc đạt đến sự đồng thuận như một biểu hiện của sự hiện diện sống động của Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần. Hơn nữa, tính hiệp hành cũng hệ tại ở việc đưa ra các quyết định theo tinh thần đồng trách nhiệm trong sự khác biệt. Nói một cách đơn giản và súc tích, tính hiệp hành là một hành trình canh tân tâm linh và cải tổ cơ cấu để làm cho Giáo hội có tính tham gia và truyền giáo nhiều hơn, để Giáo hội có thể bước đi với mọi người và chiếu tỏa ánh sáng của Đức Kitô.

29. Nơi Đức Trinh Nữ Maria, Thân mẫu của Chúa Kitô, là Mẹ của Giáo hội và của nhân loại, chúng ta thấy những đặc điểm của một Giáo hội hiệp hành, truyền giáo và thương xót được tỏa sáng trọn vẹn. Quả thực, Mẹ là hình ảnh của Giáo hội lắng nghe, cầu nguyện, suy niệm, đối thoại, đồng hành, phân định, quyết định và hành động. Chúng ta học được từ nơi Mẹ nghệ thuật lắng nghe, sự chú tâm tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa, sự vâng phục Lời Ngài, khả năng nắm hiểu nhu cầu của người nghèo, lòng can đảm lên đường, tình yêu vươn ra để giúp đỡ những người túng thiếu, bài ca ngợi khen và niềm hân hoan trong Thánh Thần. Vì lý do này, Thánh Giáo hoàng Phaolô VI khẳng định: “Hành động của Giáo hội trên thế giới này giống như sự mở rộng mối quan tâm của Đức Maria” (MC 28).

30. Một cách chi tiết hơn, tính hiệp hành chỉ rõ ba khía cạnh riêng biệt của đời sống Giáo hội:

a) Trước hết, tính hiệp hành nói đến một “phong cách đặc trưng định hình đời sống và sứ vụ của Giáo hội, diễn tả bản chất của Giáo hội như một Dân Thiên Chúa cùng nhau tiến bước và quy tụ trong đại hội được Chúa Giêsu triệu tập trong quyền năng của Chúa Thánh Thần để loan báo Tin mừng. Tính hiệp hành phải được thể hiện trong cách sống và hành động (modus vivendi et operandi) hằng ngày của Giáo hội. Cách sống và hành động này được thực thi qua việc cộng đoàn lắng nghe Lời Chúa và cử hành Bí tích Thánh Thể, qua tình huynh đệ hiệp thông, cũng như qua tinh thần đồng trách nhiệm và sự tham gia của toàn thể Dân Thiên Chúa vào đời sống và sứ vụ của Giáo hội ở mọi cấp độ và trong sự phân biệt giữa các thừa tác vụ và các vai trò khác nhau” (ITC 70.a);

b) thứ hai, “theo nghĩa hẹp hơn được xác định từ quan điểm thần học và giáo luật, tính hiệp hành chỉ những cơ cấu và tiến trình trong Giáo hội, qua đó bản chất hiệp hành của Giáo hội được thể hiện ở cấp độ thể chế, và tương tự ở nhiều cấp độ khác: địa phương, khu vực và hoàn vũ. Những cơ cấu và tiến trình này chính thức phục vụ cho sự phân định có thẩm quyền của Giáo hội, một Giáo hội được mời gọi nhận diện con đường để tiến bước bằng cách lắng nghe Chúa Thánh Thần” (ITC 70.b).

c) thứ ba, tính hiệp hành chỉ “việc thực hiện kịp thời những sự kiện hiệp hành, trong đó Giáo hội được triệu tập bởi vị có thẩm quyền và theo các thủ tục cụ thể do Giáo hội quy định, với sự tham gia của toàn thể Dân Thiên Chúa theo nhiều phương thức khác nhau ở cấp độ địa phương, khu vực và hoàn vũ, dưới sự chủ trì của các giám mục trong mối hiệp thông có tính hiệp đoàn và phẩm trật với Giám mục Rôma, để phân định con đường tiến bước và các vấn đề cụ thể, cũng như để áp dụng các quyết định và các định hướng nhằm chu toàn sứ vụ của mình” (ITC 70.c).

31. Trong bối cảnh Giáo hội học của Công đồng về Dân Thiên Chúa, khái niệm hiệp thông diễn tả bản chất sâu xa của mầu nhiệm và sứ vụ Giáo hội, có nguồn gốc và chóp đỉnh nơi việc cử hành Thánh Thể, nghĩa là sự kết hợp với Thiên Chúa Ba Ngôi và sự hiệp nhất giữa mọi người được thực hiện trong Chúa Kitô nhờ Chúa Thánh Thần. Trên nền tảng này, tính hiệp hành được hiểu “là cách sống và hoạt động [modus vivendi et operandi] đặc thù của Giáo hội là Dân Thiên Chúa, biểu lộ và hiện thực hóa cách cụ thể căn tính hiệp thông của mình trong việc bước đi cùng nhau, quy tụ thành cộng đoàn, và tham gia tích cực vào sứ vụ loan báo Tin mừng của tất cả các thành viên Giáo hội” (CTI, số 6).

32. Tính hiệp hành tự nó không phải là mục đích: nhưng nó hướng tới sứ vụ mà Chúa Kitô đã ủy thác cho Giáo hội trong Thánh Thần. Loan báo Tin mừng là “sứ vụ thiết yếu của Giáo hội […], đó là ân sủng và ơn gọi riêng của Giáo hội, là căn tính thâm sâu của Giáo hội” (EN 14). Bằng việc gần gũi với mọi người không phân biệt ai, bằng việc rao giảng và giáo huấn, ban Bí tích Rửa tội, cử hành Thánh Thể và Bí tích Hòa giải, tất cả các Giáo hội địa phương và Giáo hội hoàn vũ đáp lại một cách cụ thể lệnh truyền của Chúa là loan báo Tin mừng cho mọi dân tộc (x. Mt 28,19-20; Mc 16,15-16). Bằng việc trân trọng tất cả các đặc sủng và thừa tác vụ, tính hiệp hành giúp Dân Thiên Chúa loan báo và làm chứng về Tin mừng cho con người ở mọi nơi và mọi thời, trở thành một “bí tích hữu hình” (LG 9) của tình huynh đệ và sự hiệp nhất trong Đức Kitô theo ý muốn của Thiên Chúa. Tính hiệp hành và sứ vụ có mối nối kết mật thiết với nhau: sứ vụ soi sáng cho tính hiệp hành và tính hiệp hành thúc đẩy sứ vụ.

33. Thẩm quyền của các mục tử “là một hồng ân đặc biệt do Thánh Thần của Đức Kitô là Đầu để xây dựng toàn Thân thể” (ITC 67). Hồng ân này được liên kết với Bí tích Truyền chức, vốn làm cho những người lãnh nhận trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô là Đầu, Mục Tử và Tôi Tớ, và đặt họ phục vụ Dân thánh của Thiên Chúa để bảo vệ tính tông truyền của việc loan báo và thăng tiến sự hiệp thông trong Giáo hội ở mọi cấp độ. Tính hiệp hành đưa ra “khuôn khổ giải thích phù hợp nhất để hiểu chính thừa tác vụ có tính phẩm trật” (Đức Phanxicô, Diễn từ nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Thượng hội đồng Giám mục, ngày 17 tháng 10 năm 2015); tính hiệp hành cung cấp bối cảnh đúng đắn để hiểu mệnh lệnh mà Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần ủy thác cho các mục tử. Do đó, tính hiệp hành mời gọi toàn thể Giáo hội, kể cả những người thực thi thẩm quyền, hãy hoán cải và canh tân.

 

Hiệp nhất xét như hòa hợp

34. “Là thọ tạo có bản chất tinh thần, con người hiện thực chính bản thân mình qua những tương quan liên nhân vị. Con người càng sống những tương quan này cách đích thực, càng làm cho căn tính nhân vị của mình trưởng thành. Con người xác lập phẩm giá của mình không phải trong sự cô lập nhưng bằng cách đặt mình trong mối tương quan với tha nhân và với Thiên Chúa. Do đó, những tương quan này có tầm quan trọng nền tảng” (CV 53). Một Giáo hội hiệp hành được đặc trưng như một không gian nơi các mối tương quan có thể phát triển, nhờ tình yêu thương lẫn nhau tạo nên “điều răn mới” mà Chúa Giêsu để lại cho các môn đệ của Người (x. Ga 13,34-35). Trong các nền văn hóa và xã hội ngày càng mang tính cá nhân chủ nghĩa, thì Giáo hội, “một dân tộc được hiệp nhất khởi nguồn từ sự hiệp nhất của Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (LG 4), có thể làm chứng cho sức mạnh của các mối tương quan dựa trên nền tảng Thiên Chúa Ba Ngôi. Những khác biệt về ơn gọi, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, điều kiện và tầng lớp xã hội được thấy nơi mọi cộng đoàn Kitô hữu mang lại cho mỗi người cuộc gặp gỡ với sự khác biệt, vốn cần thiết cho sự trưởng thành cá nhân.

35. Trước hết, chính trong gia đình - như Công đồng nói, có thể được gọi là “Giáo hội tại gia” (LG 11), mà người ta cảm nghiệm được sự phong phú của các mối tương quan giữa những người hiệp nhất với nhau trong sự khác biệt về tính tình, giới tính, tuổi tác và vai trò. Vì lý do này, các gia đình là nơi đặc biệt để học hỏi và trải nghiệm những thực hành thiết yếu của một Giáo hội hiệp hành. Bất chấp những rạn nứt và đau khổ mà họ trải qua, gia đình vẫn là nơi chúng ta học biết trao đổi hồng ân tình yêu, sự tin tưởng, tha thứ, hòa giải và cảm thông. Chính trong gia đình mà chúng ta học được rằng chúng ta có cùng một phẩm giá, chúng ta được dựng nên cho nhau, chúng ta cần được lắng nghe và chúng ta có khả năng để lắng nghe, để phân định và cùng nhau quyết định, để chấp nhận và thi hành một thẩm quyền được vận hành bởi đức ái, để trở nên đồng trách nhiệm và để có trách nhiệm hơn về các hành động của mình. “Gia đình làm cho con người trở nên nhân bản hơn, thông qua các mối tương quan “chúng ta” và đồng thời thúc đẩy những khác biệt chính đáng của mỗi người” (Đức Phanxicô, Diễn từ với các tham dự viên Hội nghị toàn thể của Học viện Giáo hoàng về các Khoa học Xã hội, ngày 29 tháng 4 năm 2022).

36. Tiến trình Thượng Hội đồng nhấn mạnh rằng Chúa Thánh Thần không ngừng gợi lên trong Dân Thiên Chúa nhiều đặc sủng và thừa tác vụ khác nhau. “Trong việc xây dựng thân mình Đức Kitô, rất cần đến sự đa dạng của các chi thể và phận vụ. Chỉ có một Thần Khí duy nhất là Đấng ban những ân huệ khác nhau theo sự sung mãn của Người và tùy nhu cầu của các tác vụ vì ích lợi của Giáo Hội (x. 1 Cr 12,1-11)” (LG 7). Tương tự như vậy, đã có sự thôi thúc mở rộng các khả năng tham gia và thực thi tinh thần đồng trách nhiệm trong sự khác biệt của tất cả những người đã được rửa tội, nam cũng như nữ. Tuy nhiên, trong phương diện này, có ghi nhận về nỗi buồn do thiếu sự tham gia của nhiều thành viên Dân Thiên Chúa trong hành trình canh tân Giáo hội, và do sự khó khăn rất phổ biến trong việc sống trọn vẹn mối tương quan lành mạnh giữa nam và nữ, giữa các thế hệ, giữa các cá nhân và các nhóm có bản sắc văn hóa và điều kiện xã hội khác nhau, đặc biệt là người nghèo và những người bị loại trừ.

37. Hơn nữa, tiến trình Thượng Hội đồng đã nêu bật di sản tinh thần của các Giáo hội địa phương, chính tại nơi đó và từ nơi đó mà Giáo hội Công giáo hiện hữu, cũng như nêu bật sự cần thiết phải trình bày rõ ràng những kinh nghiệm của các Giáo hội ấy. “Nhờ đặc tính công giáo ấy, mỗi phần tử thực thi những đóng góp của riêng mình cho các phần tử khác và cho toàn thể Giáo hội, để tất cả và từng người được tăng triển nhờ cùng chia sẻ mọi sự và cùng hiệp lực đạt đến tình trạng viên mãn trong tình hiệp nhất” (LG 13). Thừa tác vụ của vị kế nhiệm thánh Phêrô “bảo toàn các dị biệt hợp pháp, đồng thời lưu tâm giữ gìn sao cho các dị biệt ấy không làm phương hại, trái lại còn phục vụ cho sự hiệp nhất” (sđd.; x. LG 22).

38. Toàn thể Giáo hội luôn là một tập hợp đa dạng các dân tộc và ngôn ngữ, các Giáo hội với các nghi thức, kỷ luật, di sản thần học và linh đạo riêng, với các ơn gọi, các đặc sủng và các thừa tác vụ phục vụ cho ích chung. Sự hiệp nhất trong đa dạng này đạt được nhờ Chúa Kitô, viên đá tảng góc tường, và nhờ Chúa Thánh Thần, Thầy dạy sự hòa hợp. Sự hiệp nhất trong đa dạng này được biểu đạt chính xác bởi tính công giáo của Giáo hội. Một dấu hiệu cho thấy điều này là sự đa dạng của các Giáo hội tự trị [sui iuris], mà sự phong phú của các Giáo hội này đã được nhấn mạnh bởi tiến trình Thượng Hội đồng. Đại hội này yêu cầu chúng ta tiếp tục con đường gặp gỡ, hiểu biết lẫn nhau và trao đổi các hồng ân nuôi dưỡng sự hiệp thông của một Giáo hội bao gồm các Giáo hội.

39. Việc canh tân theo tinh thần hiệp hành thúc đẩy sự trân trọng đối với các bối cảnh địa phương, như là nơi mà tính công giáo Thiên Chúa kêu gọi được biểu lộ và hoàn thành. Đây là một lời mời gọi để trở thành một phần của Dân Thiên Chúa, để tham gia vào Vương Quốc của Ngài, một vương quốc của “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17). Theo cách này, các nền văn hóa khác nhau có thể nhận thức được sự thống nhất nằm bên dưới sự đa dạng của mình và mở ra viễn cảnh trao đổi các hồng ân. “Sự hiệp nhất của Giáo hội không phải là sự đồng nhất, mà là một sự hội nhập hữu cơ của những sự đa dạng chính đáng” (NMI 46). Sự đa dạng trong cách diễn đạt sứ điệp cứu độ sẽ giúp tránh giản lược sứ điệp này thành một cách hiểu duy nhất về đời sống của Giáo hội và về các hình thức thần học, phụng vụ, mục vụ và kỷ luật mà trong đó sứ điệp được trình bày.

40. Việc đề cao các bối cảnh, các nền văn hóa và những sự đa dạng, cũng như các mối tương quan giữa chúng, là chìa khóa để phát triển trong tư cách là một Giáo hội hiệp hành truyền giáo, và để bước đi, dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, hướng tới sự hiệp nhất hữu hình của các Kitô hữu. Chúng tôi nhắc lại cam kết của Giáo hội Công giáo về việc tiếp tục và đẩy mạnh hành trình đại kết với các Kitô hữu khác dựa trên nền tảng Phép rửa chung của chúng ta và để đáp lại tiếng gọi cùng nhau sống sự hiệp thông và hiệp nhất giữa các môn đệ, như Chúa Kitô cầu nguyện cho họ tại bữa Tiệc Ly (x. Ga 17,20-26). Đại hội vui mừng và biết ơn trước sự tiến triển của các mối quan hệ đại kết trong hơn 60 năm qua, của các tài liệu đối thoại và của các tuyên bố diễn tả đức tin chung. Sự tham gia của các Đại biểu đại kết đã làm phong phú thêm cho các tiến trình làm việc của Đại hội; chúng tôi mong chờ những bước tiếp theo trong lộ trình hướng tới sự hiệp thông trọn vẹn, thông qua việc đón nhận những thành quả của hành trình đại kết trong các thực hành của Giáo hội.

41. Khắp nơi trên trái đất, các Kitô hữu sống cạnh những người chưa lãnh nhận Bí tích Rửa tội và phục vụ Thiên Chúa bằng cách thực hành một tôn giáo khác. Chúng ta cầu nguyện trọng thể cho họ trong phụng vụ thứ Sáu tuần thánh, chúng ta cộng tác và nỗ lực cùng với họ để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, và cùng cầu xin Thiên Chúa duy nhất giải thoát thế giới khỏi những sự dữ đang gây nhiều thống khổ. Việc đối thoại, gặp gỡ và trao đổi các hồng ân - những đặc tính của một Giáo hội hiệp hành - là lời mời gọi để mở rộng mối tương quan với các truyền thống tôn giáo khác, nhằm mục đích “thiết lập tình hữu nghị, hòa bình, hòa hợp và để chia sẻ các giá trị và kinh nghiệm tâm linh và đạo đức trong tinh thần mến yêu và tôn trọng sự thật” (Hội đồng Giám mục Ấn Độ, Phản ứng của Giáo hội Ấn Độ trước những thách thức ngày nay, ngày 09 tháng 3 năm 2016, được trích dẫn trong FT 271). Ở một số vùng, các Kitô hữu dấn thân xây dựng các mối tương quan chặt chẽ với những người thuộc các tôn giáo khác đang phải đối mặt với sự bách hại. Đại hội khuyến khích họ kiên trì dấn thân trong niềm hy vọng.

42. Sự đa dạng của các tôn giáo và văn hóa, sự đa dạng của các truyền thống thần học và linh đạo, sự đa dạng trong các hồng ân của Chúa Thánh Thần và các nhiệm vụ trong cộng đoàn, cũng như sự đa dạng về tuổi tác, giới tính và các mối gắn kết xã hội trong Giáo hội, đều là lời mời gọi mỗi người hãy nhận thức và đảm đương vị trí đặc thù của mình, chống lại cám dỗ đặt bản thân vào trung tâm, và hãy mở lòng đón nhận những quan điểm khác biệt. Mỗi người có một sự đóng góp riêng và không thể thiếu để hoàn thành công việc chung. Có thể dùng hình ảnh của một dàn nhạc để mô tả một Giáo hội hiệp hành: sự đa dạng của các loại nhạc cụ là cần thiết để làm sống động vẻ đẹp và sự hài hòa của bản nhạc, trong đó giọng hát của mỗi người vẫn giữ những đặc tính riêng để phục vụ công cuộc chung. Đây là cách thể hiện sự hài hòa được Chúa Thánh Thần tạo ra trong Giáo hội, Chúa Thánh Thần là chính sự hài hòa (x. thánh Basiliô, Về Thánh vịnh 29,1; Về Chúa Thánh Thần XVI, 38).

 

Linh đạo hiệp hành

43. Tính hiệp hành trước hết là một tâm thế thiêng liêng thấm nhuần vào đời sống hằng ngày của những người đã lãnh Bí tích Rửa tội, cũng như vào mọi khía cạnh của sứ vụ Giáo hội. Một linh đạo hiệp hành phát sinh từ tác động của Chúa Thánh Thần và đòi hỏi việc lắng nghe Lời Chúa, sự chiêm niệm, thinh lặng và hoán cải tâm hồn. Như Đức thánh cha Phanxicô đã phát biểu trong diễn từ khai mạc Khóa họp thứ hai này, “Chúa Thánh Thần là vị dẫn đường chắc chắn, và nhiệm vụ trước hết của chúng ta là học cách phân định tiếng nói của Ngài, bởi vì Ngài nói trong mọi người và trong mọi sự” (Bài phát biểu khai mạc tại Khóa họp thứ hai của Đại hội thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, ngày 02 tháng 10 năm 2024). Linh đạo hiệp hành cũng đòi hỏi sự khổ hạnh, khiêm tốn, kiên nhẫn, và sẵn sàng tha thứ cũng như đón nhận sự tha thứ. Giáo hội đón nhận với lòng biết ơn và khiêm tốn những hồng ân và những nhiệm vụ khác nhau được Chúa Thánh Thần phân phát để phục vụ một Thiên Chúa duy nhất (x. 1Cr 12,4-5). Giáo hội làm như vậy mà không có tham vọng hay đố kỵ, cũng không ham muốn thống trị hay kiểm soát, trong khi vun trồng những tâm tư giống như Chúa Giêsu Kitô, Đấng “đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ” (Pl 2,7). Chúng ta nhận ra hoa trái của linh đạo hiệp hành khi đời sống hằng ngày của Giáo hội được in dấu bằng sự hiệp nhất và hài hòa trong tính đa dạng. Không ai có thể tiến bước trên con đường linh đạo đích thực một mình. Chúng ta cần sự hỗ trợ, bao gồm cả việc đào tạo và đồng hành thiêng liêng, cả ở cấp độ cá nhân lẫn cộng đoàn.

44. Việc canh tân cộng đoàn Kitô hữu chỉ có thể thực hiện được khi nhìn nhận tầm quan trọng hàng đầu của ân sủng. Nếu thiếu chiều sâu thiêng liêng ở cả cấp độ cá nhân và cộng đoàn, thì tính hiệp hành sẽ bị giảm xuống thành sự tiện lợi về mặt tổ chức. Chúng ta không chỉ được kêu gọi chuyển những thành quả của một kinh nghiệm tâm linh cá nhân thành các tiến trình của cộng đoàn, mà còn được kêu gọi một cách sâu sắc hơn để trải nghiệm cách mà việc thực hành điều răn mới về yêu thương lẫn nhau trở thành một nơi chốn và phương thức để gặp gỡ Thiên Chúa. Theo nghĩa này, viễn tượng hiệp hành, trong khi dựa vào di sản tâm linh phong phú của Truyền thống, sẽ góp phần canh tân các phương thức của nó như: một lời cầu nguyện mở ra cho sự tham gia, một sự phân định được thực hiện cùng với nhau, một năng lực truyền giáo có được từ việc chia sẻ và tỏa sáng trong sự phục vụ.

45. Đối thoại trong Thánh Thần là một công cụ, mặc dù có những hạn chế, nhưng nó rất hữu hiệu trong việc cho phép lắng nghe và phân định “điều Thần Khí nói với các Hội thánh” (Kh 2,7). Việc thực hành nó khơi dậy niềm vui, sự ngạc nhiên và lòng biết ơn, và được trải nghiệm như một lộ trình canh tân giúp biến đổi các cá nhân, các nhóm và chính Giáo hội. Từ “đối thoại” ở đây muốn nói điều gì đó không chỉ là việc đối thoại đơn thuần, nó là sự đan kết một cách hài hòa giữa tư tưởng và cảm xúc và tạo ra một thế giới sống chung. Vì lý do này, có thể nói rằng sự hoán cải có tầm quyết định trong cuộc đối thoại. Đây là một thực tế nhân học được tìm thấy nơi các dân tộc và các nền văn hóa khác nhau, được thống nhất bởi việc quy tụ lại trong tinh thần liên đới để thảo luận và quyết định những vấn đề sống còn cho cộng đồng. Ân sủng sẽ làm cho kinh nghiệm nhân bản này trở nên trọn vẹn. Đối thoại “trong Thánh Thần” có nghĩa là sống kinh nghiệm chia sẻ trong ánh sáng đức tin và trong việc tìm kiếm thánh ý của Thiên Chúa trong một bầu khí Tin mừng, trong đó Chúa Thánh Thần có thể khiến tiếng nói không thể nhầm lẫn của Ngài được nghe thấy.

46. Ở mọi giai đoạn của tiến trình Thượng Hội đồng đều có âm vang nhu cầu chữa lành, hòa giải và xây dựng lại sự tin tưởng trong Giáo hội và trong xã hội, nhất là sau quá nhiều vụ bê bối liên quan đến các loại lạm dụng khác nhau. Giáo hội được mời gọi đặt vào trung tâm đời sống và hoạt động của mình sự thật rằng trong Chúa Kitô và qua Bí tích Rửa tội, chúng ta được ủy thác cho nhau. Nhận thức thực tế sâu sắc này trở thành một nghĩa vụ thiêng liêng cho phép chúng ta nhận ra sai lầm và xây dựng lại niềm tin. Bước đi trên lộ trình này là một hành động công lý, một sự dấn thân truyền giáo của Dân Thiên Chúa trong thế giới của chúng ta, và cũng là một hồng ân mà chúng ta phải cầu xin. Khát vọng tiếp tục bước đi trên lộ trình này là thành quả của cuộc canh tân có tính hiệp hành.

 

Tính hiệp hành như lời ngôn sứ cho thế giới hôm nay

47. Được thực hành với lòng khiêm tốn, phong cách hiệp hành có thể làm cho Giáo hội trở thành một tiếng nói ngôn sứ trong thế giới hôm nay. “Giáo hội hiệp hành như một cờ hiệu được phất lên cho các dân tộc” (x. Is 11,12)” (Đức Phanxicô, Diễn từ nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Thượng hội đồng Giám mục, ngày 17 tháng 10 năm 2015). Chúng ta đang sống trong một thời đại được đánh dấu bởi những sự bất bình đẳng ngày càng lan rộng, bởi sự vỡ mộng ngày càng tăng đối với các mô hình quản trị truyền thống, bởi sự nản lòng đối với cách vận hành của nền dân chủ, bởi các xu hướng độc tài và toàn trị ngày càng gia tăng, bởi sự thống trị của mô hình thị trường không quan tâm đến tình trạng dễ bị tổn thương của con người và thụ tạo, và bởi sự cám dỗ giải quyết các xung đột bằng vũ lực hơn là bằng đối thoại. Những thực hành chân thực của tính hiệp hành giúp các Kitô hữu phát triển một nền văn hóa có khả năng đưa ra tiếng nói ngôn sứ phê phán tư tưởng thống trị, và qua đó cung ứng một sự đóng góp độc đáo vào việc tìm kiếm các câu trả lời cho nhiều thách đố mà các xã hội hiện nay phải đối mặt, và cho việc xây dựng ích chung.

48. Lối sống hiệp hành trong các mối tương quan là một hình thức chứng tá dành cho xã hội. Đồng thời, đó cũng là một cách đáp ứng nhu cầu căn bản của con người là muốn được đón nhận và công nhận trong một cộng đoàn cụ thể. Việc thực hiện tính hiệp hành là một thách thức đối với tình trạng cô lập ngày càng gia tăng của con người và đối với chủ nghĩa văn hóa cá nhân, một thực trạng mà chính Giáo hội cũng chịu ảnh hưởng. Tính hiệp hành mời gọi chúng ta hướng đến sự quan tâm lẫn nhau, tình liên đới và tinh thần đồng trách nhiệm vì ích chung. Tương tự, tính hiệp hành cũng thách thức những mô hình chủ nghĩa tập thể xã hội thái quá, vốn có nguy cơ bóp nghẹt các cá nhân và ngăn cản họ trở thành chủ thể cho sự phát triển chính mình. Việc sẵn lòng lắng nghe mọi người, đặc biệt những người nghèo, hoàn toàn trái ngược với một thế giới trong đó sự tập trung quyền lực để vứt bỏ những người nghèo, những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, các nhóm thiểu số, và cả trái đất là ngôi nhà chung của chúng ta. Tính hiệp hành và sinh thái toàn diện đều nhấn mạnh đến chiều kích tương quan, đồng thời mời gọi chúng ta nuôi dưỡng các mối dây gắn kết. Chính vì thế, cả hai không chỉ tương hợp mà còn bổ sung cho nhau trong cách thức mà Giáo hội thực thi sứ vụ trong thế giới ngày nay.

 

Phần II – CÙNG NHAU TRÊN THUYỀN

Sự hoán cải các mối tương quan

Ông Simôn Phêrô, ông Tôma gọi là Điđymô, ông Nathanaen người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Simôn Phêrô nói với các ông: “Tôi đi đánh cá đây.” Các ông đáp: “Chúng tôi cùng đi với anh” (Ga 21,2-3).

49. Biển hồ Tibêria là nơi mọi chuyện bắt đầu. Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan đã bỏ thuyền bỏ lưới mà đi theo Chúa Giêsu. Sau lễ Phục sinh, họ lại bắt đầu từ biển hồ ấy. Trong đêm tối, có tiếng đối thoại vang vọng trên bờ: “Tôi đi đánh cá đây”. “Chúng tôi cùng đi với anh.” Hành trình Thượng Hội đồng cũng bắt đầu như thế: Chúng ta đã nghe lời mời của vị kế nhiệm thánh Phêrô và chúng ta đã chấp nhận; chúng ta lên đường cùng với ngài và đi sau ngài. Chúng ta đã cùng nhau cầu nguyện, suy tư, làm việc miệt mài và đối thoại. Nhưng trên hết chúng ta đã kinh nghiệm rằng chính các mối tương quan nâng đỡ sức sống của Giáo hội, và làm sinh động các cơ cấu của Giáo hội. Một Giáo hội hiệp hành truyền giáo cần canh tân các mối tương quan và cả các cơ cấu.

 

Những mối tương quan mới

50. Điều xuất hiện trong suốt tiến trình Thượng Hội đồng, ở mọi nơi và trong mọi bối cảnh, là lời kêu gọi về một Giáo hội có khả năng nuôi dưỡng các mối tương quan tốt hơn: tương quan với Chúa, tương quan giữa mọi người trong các gia đình, các cộng đoàn, các nhóm xã hội, các nhóm tôn giáo và tương quan với công trình tạo dựng. Nhiều người bày tỏ sự ngạc nhiên khi được hỏi và vui mừng khi có thể nói lên tiếng nói của mình trong cộng đoàn; cũng có những người chia sẻ nỗi đau vì cảm thấy bị loại trừ hay bị xét đoán vì tình trạng hôn nhân, vì căn tính và khuynh hướng tính dục của họ. Ước muốn có những mối tương quan chân thực và có ý nghĩa hơn không chỉ diễn tả khát vọng thuộc về một nhóm gắn kết, mà còn phù hợp với một nhận thức sâu xa về đức tin: Phẩm chất Tin mừng của các mối tương quan cộng đoàn là điều có tính quyết định cho chứng tá mà Dân Thiên Chúa được kêu gọi trình bày trong lịch sử. “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Dấu chỉ hùng hồn nhất về tác động của Chúa Thánh Thần trong cộng đoàn môn đệ chính là lời mời gọi thiết lập mối tương quan với những người hèn mọn nhất, một lời mời phát sinh từ sự canh tân ân sủng và theo lời dạy của Chúa Giêsu. Do đó, để trở thành một Giáo hội hiệp hành, chúng ta cần phải mở lòng mình hướng đến một sự hoán cải thật sự trong các mối tương quan, điều sẽ định hướng lại các ưu tiên của mỗi người. Chúng ta phải học lại từ Tin mừng rằng việc chăm sóc các mối tương quan không chỉ là một chiến lược hay công cụ để đạt hiệu quả cao hơn về mặt tổ chức, mà đúng hơn đó là cách Thiên Chúa Cha mạc khải chính Ngài trong Chúa Giêsu và trong Chúa Thánh Thần. Khi chúng ta để cho các mối tương quan dù còn mong manh của chúng ta được chiếu qua bởi ân sủng của Chúa Kitô, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, thì chúng ta tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi bằng chính đời sống của mình.

51. Do đó, chúng ta nên tìm trong Tin mừng để phác họa cho chúng ta hành trình hoán cải cần thiết, bằng cách từng bước học hỏi và áp dụng thái độ của Chúa Giêsu vào đời sống mình. Các Tin mừng cho chúng ta thấy Chúa Giêsu “liên tục lắng nghe những ai đến với Người trên các nẻo đường Đất thánh” (DCS 11). Dù đó là người nam hay người nữ, người Do Thái hay dân ngoại, các luật sĩ hay những người thu thuế, người công chính hay người tội lỗi, những người ăn xin, người mù, người phong cùi hay các bệnh nhân, Chúa Giêsu không để ai ra đi mà trước hết không dừng lại để lắng nghe và đối thoại với họ. Người đã mạc khải dung mạo của Chúa Cha bằng cách gặp gỡ từng người với chính lịch sử và sự tự do của họ.

Từ việc lắng nghe những nhu cầu và đức tin của những kẻ Người gặp, Chúa Giêsu đã có những lời nói và cử chỉ có sức đổi mới cuộc sống của họ, mở đường cho những mối tương quan được chữa lành. Chúa Giêsu là Đấng Mêsia đã “làm cho kẻ điếc nghe được và kẻ câm nói được” (Mc 7,37). Người yêu cầu chúng ta, các môn đệ của Người, hãy cư xử theo cách tương tự, và Người ban cho chúng ta – với ân sủng của Chúa Thánh Thần – khả năng làm điều đó, bằng cách khuôn đúc trái tim chúng ta theo Người: chỉ có “trái tim mới làm cho mọi mối liên kết đích thực trở nên khả thi, vì một mối tương quan không được định hình bởi trái tim sẽ không thể vượt qua sự phân mảnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra” (DN 17). Bằng cách lắng nghe anh chị em mình, chúng ta tham gia vào chính cách thức mà Thiên Chúa, trong Chúa Giêsu Kitô, đến gặp gỡ từng người chúng ta.

52. Nhu cầu hoán cải trong các mối tương quan chắc chắn liên quan đến các mối tương quan giữa người nam và người nữ. Động lực tương quan này đã được khắc ghi trong thân phận con người của chúng ta. Sự khác biệt về giới tính thiết lập nền tảng của tương quan con người. “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). Trong kế hoạch của Thiên Chúa, sự khác biệt nguyên thủy này không bao hàm sự bất bình đẳng giữa nam và nữ. Trong cuộc tạo dựng mới, điều này được đọc lại dưới ánh sáng của phẩm giá do Bí tích Rửa tội: “Bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô. Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; vì tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô Giêsu” (Gl 3,27-28). Là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi đón nhận và tôn trọng sự khác biệt này - theo những cách thức và những bối cảnh khác nhau – bởi nó là một hồng ân của Thiên Chúa và là một nguồn sự sống. Chúng ta làm chứng cho Tin mừng khi chúng ta cố gắng sống những mối tương quan tôn trọng phẩm giá bình đẳng và hỗ tương giữa nam và nữ. Trong tiến trình Thượng Hội đồng, những sự bày tỏ thường xuyên về đau khổ của phụ nữ từ mọi khu vực và mọi lục địa, cả giáo dân lẫn tu sĩ, cho thấy chúng ta thường không đạt được điều này.

 

Trong sự đa dạng của các bối cảnh

53. Lời mời gọi canh tân các mối tương quan trong Chúa Giêsu vang vọng trong sự đa dạng của các bối cảnh khác nhau mà các môn đệ của Người đang sống và thực thi sứ vụ của Giáo Hội. Mỗi bối cảnh này đều có những sự phong phú riêng mà chúng ta cần lưu tâm, gắn liền với tính đa dạng của các nền văn hóa. Tuy nhiên, mọi nền văn hóa đều mang dấu ấn của những mối tương quan bị méo mó, không phù hợp với Tin Mừng. Trong dòng lịch sử, sự đóng kín trong các mối tương quan đã dần biến thành những cơ cấu của tội lỗi (x. SRS 36), ảnh hưởng đến cách con người suy nghĩ và hành động. Đặc biệt, những cơ cấu của tội lỗi tạo ra những rào cản và nỗi sợ hãi mà chúng ta cần can đảm đối diện và vượt qua, để có thể bước vào hành trình hoán cải các mối tương quan theo ánh sáng Tin mừng.

54. Những sự dữ đang hành hạ thế giới chúng ta bao gồm chiến tranh, xung đột vũ trang và ảo tưởng cho rằng có thể đạt được hòa bình chân chính bằng vũ lực, đều bắt nguồn từ những động lực của những cấu trúc tội lỗi này. Nguy hiểm không kém là niềm tin rằng tất cả công trình tạo dựng, kể cả con người, đều có thể bị tùy ý khai thác để thu lợi nhuận. Hậu quả của thực trạng này là sự hình thành những rào cản chia rẽ con người, ngay cả trong các cộng đồng Kitô hữu, cũng như tạo ra những bất bình đẳng mà trong đó một số người thì có cơ hội còn những người khác thì bị loại trừ. Những bất bình đẳng này bao gồm: sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, định kiến chủng tộc, sự phân biệt giai cấp, sự kỳ thị đối với người khuyết tật, sự vi phạm quyền của các nhóm thiểu số dưới mọi hình thức, cũng như thái độ thiếu thiện chí trong việc đón nhận người di cư. Ngay cả mối tương quan của chúng ta với trái đất, là người chị và mẹ của chúng ta (x. LS 1), cũng mang những dấu hiệu rạn nứt gây nguy hiểm cho sự sống của vô số cộng đồng, đặc biệt ở những khu vực bần cùng nhất, nếu không nói là gây nguy hiểm cho toàn thể các dân tộc và có lẽ là cho toàn thể nhân loại. Sự đóng kín căn cốt nhất và bi kịch nhất là sự đóng kín đối với chính sự sống con người, dẫn đến việc loại bỏ trẻ em, ngay cả từ trong lòng mẹ, và loại bỏ người già.

55. Nhiều sự dữ đang hành hạ thế giới chúng ta cũng bộc lộ trong Giáo hội. Cơn khủng hoảng lạm dụng, với những biểu hiện đa dạng và bi thảm của nó, đã gây ra những đau khổ không kể xiết và khôn nguôi cho các nạn nhân và những người sống sót, cũng như cho cộng đồng của họ. Giáo hội phải đặc biệt chú ý và nhạy cảm lắng nghe tiếng nói của các nạn nhân và những người sống sót từ các vụ lạm dụng: tình dục, thiêng liêng, kinh tế, cơ chế, quyền lực, và lương tâm bởi các thành viên hàng giáo sĩ hay những người có chức vụ trong Giáo hội. Lắng nghe là yếu tố cơ bản trên lộ trình hướng tới sự chữa lành, sám hối, công lý và hòa giải. Trong một thời đại đang trải qua cuộc khủng hoảng sự tin tưởng trên toàn cầu và đang khuyến khích người ta sống trong sự ngờ vực và nghi kỵ, Giáo hội phải nhìn nhận những khuyết điểm của mình, khiêm tốn cầu xin sự tha thứ, chăm sóc các nạn nhân, trang bị các công cụ phòng ngừa và cố gắng xây dựng lại sự tin tưởng lẫn nhau trong Chúa.

56. Việc lắng nghe những người bị loại trừ và bị gạt ra ngoài lề xã hội sẽ củng cố nhận thức rằng sứ vụ của Giáo hội bao gồm việc mang lấy gánh nặng của những mối tương quan bị tổn thương này, để Chúa, Đấng Hằng Sống, sẽ chữa lành cho họ. Chỉ bằng cách này Giáo hội mới có thể “như là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và phương tiện hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa và hợp nhất mọi người” (LG 1). Đồng thời, sự mở ra với thế giới cho phép chúng ta khám phá ra Chúa Thánh Thần đã gieo vãi những hạt giống của Tin mừng ở mọi nơi trên thế giới, trong mọi nền văn hóa và trong mọi cộng đồng nhân loại. Các hạt giống ấy sinh hoa quả theo khả năng sống các mối tương quan lành mạnh, vun đắp sự tin tưởng và tha thứ lẫn nhau, vượt qua nỗi sợ hãi sự khác biệt và tạo ra những cộng đồng thân thiện, thúc đẩy một nền kinh tế quan tâm đến con người và hành tinh, và đem lại hòa giải sau xung đột. Lịch sử để lại cho chúng ta một di sản là các cuộc xung đột bị thúc đẩy dưới danh nghĩa tôn giáo, làm suy yếu uy tín của chính các tôn giáo. Nhiều đau khổ đã phát sinh từ gương mù chia rẽ giữa các cộng đoàn Kitô giáo và sự thù địch giữa những anh chị em lãnh nhận cùng một Phép rửa. Kinh nghiệm mới mẻ về động lực đại kết vốn đi kèm với hành trình Thượng Hội đồng là một trong những dấu hiệu của sự hối cải tương quan, và mở ra con đường dẫn đến niềm hy vọng.

 

Các đặc sủng, các ơn gọi và các thừa tác vụ cho sứ vụ

57. Các Kitô hữu, cá nhân hay trong đoàn thể, được mời gọi làm cho các hồng ân của Chúa Thánh Thần sinh hoa trái nhằm làm chứng và loan báo Tin mừng. “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (1Cr 12,4-7). Trong cộng đoàn Kitô hữu, tất cả những người đã lãnh Bí tích Rửa tội đều có nhiều ân huệ để chia sẻ, mỗi người tùy theo ơn gọi và điều kiện sống riêng của mình. Trên thực tế, các ơn gọi khác nhau trong Giáo hội là những cách diễn tả đa dạng và rõ ràng về lời mời gọi duy nhất do Bí tích Rửa tội, đó là lời mời gọi nên thánh và thi hành sứ vụ. Sự đa dạng của các đặc sủng, bắt nguồn từ sự tự do của Chúa Thánh Thần, nhằm phục vụ cho sự hiệp nhất của Giáo hội là Thân Thể Chúa Kitô (x. LG 32), và phục vụ cho sứ vụ ở những nơi chốn và các nền văn hóa khác nhau (x. LG 12). Những hồng ân này không phải là tài sản độc quyền của những người đón nhận và sử dụng chúng, cũng không thể là lý do để đòi hỏi đặc quyền cho mình hay cho nhóm mình. Nhờ việc mục vụ phù hợp cho các ơn gọi, những hồng ân này đóng góp không chỉ cho đời sống của cộng đoàn Kitô hữu mà còn cho sự phát triển của xã hội trong mọi chiều kích của nó.

58. Mỗi người đã được rửa tội đều đáp lại đòi hỏi của sứ vụ trong bối cảnh nơi mình đang sống và hoạt động, tùy theo khuynh hướng và khả năng riêng của mình, qua đó thể hiện sự tự do của Chúa Thánh Thần trong việc trao ban các hồng ân. Chính nhờ vào sự năng động này của Chúa Thánh Thần mà Dân Thiên Chúa, khi lắng nghe thực tế nơi mình sinh sống, có thể khám phá ra những lĩnh vực mới để dấn thân và những cách thức mới để thực thi sứ vụ của mình. Các Kitô hữu, dù với vai trò nào - trong đời sống gia đình hay trong các bậc sống khác, tại nơi làm việc hay trong nghề nghiệp của mình, trong dấn thân dân sự hoặc chính trị, trong hoạt động xã hội hay sinh thái, trong việc xây dựng một nền văn hóa được truyền cảm hứng từ Tin mừng cũng như trong việc loan báo Tin mừng trong môi trường kỹ thuật số - đều đang bước đi trên những nẻo đường của thế giới và loan báo Tin mừng trong đời sống của họ. Họ luôn được nâng đỡ bởi những hồng ân của Chúa Thánh Thần.

59. Trong khi thi hành những điều trên, các Kitô hữu xin Giáo hội đừng bỏ rơi họ, nhưng giúp họ cảm nhận được rằng họ được sai đi và nâng đỡ. Họ xin được nuôi dưỡng bằng lương thực Lời Chúa và Thánh Thể, cũng như bằng tình huynh đệ trong cộng đoàn. Họ cầu mong rằng sự dấn thân của họ được nhìn nhận đúng với bản chất: đó là hành động của Giáo hội xuất phát từ ánh sáng Tin mừng, chứ không phải một lựa chọn riêng tư. Cuối cùng, họ xin cộng đoàn hãy đồng hành với những người nhờ chứng tá của họ mà được lôi cuốn đến với Tin mừng. Trong một Giáo hội hiệp hành truyền giáo, dưới sự hướng dẫn của các mục tử, các cộng đoàn sẽ có khả năng sai đi và nâng đỡ những người mà họ đã sai đi. Nhờ đó, các cộng đoàn sẽ nhận thức chính mình chủ yếu là người phục vụ cho sứ vụ mà các tín hữu đảm nhận trong xã hội, trong gia đình và trong môi trường làm việc, mà không còn chỉ tập trung vào các hoạt động diễn ra nội bộ và các nhu cầu tổ chức của riêng cộng đoàn mình.

60. Qua Bí tích Rửa tội, những con người nam nữ có cùng phẩm giá bình đẳng trong Dân Thiên Chúa. Tuy nhiên, phụ nữ vẫn tiếp tục gặp những trở ngại trong việc đạt được sự nhìn nhận đầy đủ hơn về các đặc sủng, ơn gọi và vị trí của họ trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống Giáo hội, đến mức gây tổn hại cho việc phục vụ của họ đối với sứ vụ chung. Kinh thánh chứng thực cho vai trò nổi bật của nhiều phụ nữ trong lịch sử cứu độ. Lời loan báo đầu tiên về sự Phục sinh được giao phó cho Maria Mácđala, một phụ nữ; vào ngày lễ Ngũ Tuần, Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã hiện diện trong Phòng Tiệc Ly, cùng với nhiều phụ nữ khác đã từng đi theo Chúa. Điều quan trọng là những đoạn Kinh thánh liên quan đến phụ nữ phải tìm được một vị trí thích hợp trong các bài đọc phụng vụ. Một số thời điểm quan trọng trong lịch sử Giáo hội xác nhận sự đóng góp thiết yếu của các phụ nữ được Chúa Thánh Thần thúc đẩy. Phụ nữ chiếm đa số trong những người đến nhà thờ và thường là những chứng nhân đầu tiên của đức tin trong các gia đình. Họ rất tích cực trong đời sống của các cộng đoàn Kitô hữu nhỏ và trong các giáo xứ; họ điều hành các trường học, bệnh viện và các trung tâm đón tiếp; họ dẫn dắt các sáng kiến hòa giải và việc thăng tiến phẩm giá con người cũng như công bằng xã hội. Phụ nữ đóng góp vào việc nghiên cứu thần học và hiện diện ở các vị trí quan trọng trong các tổ chức của Giáo hội, trong bộ máy điều hành giáo phận và trong Giáo triều Rôma. Có những phụ nữ nắm giữ vị trí có thẩm quyền hay đứng đầu các cộng đồng. Khóa Đại hội này kêu gọi thực hiện đầy đủ tất cả những cơ hội đã được Giáo luật cho phép liên quan đến vai trò của phụ nữ, đặc biệt tại những nơi mà các cơ hội này vẫn chưa được tận dụng đúng mức. Không có lý do nào ngăn cản các phụ nữ đảm nhận vai trò lãnh đạo trong Giáo hội: những gì đến từ Chúa Thánh Thần thì không thể bị ngăn cản. Ngoài ra, vấn đề về khả năng tiếp nhận thừa tác vụ phó tế của phụ nữ vẫn còn bỏ ngỏ và việc phân định về vấn đề này cần được tiếp tục. Đại hội cũng mời gọi sự chú ý nhiều hơn đến ngôn ngữ và các hình ảnh dùng trong việc giảng thuyết, dạy học, huấn giáo, và trong việc soạn thảo các văn kiện chính thức của Giáo hội, hãy dành nhiều chỗ hơn cho sự đóng góp của các thánh nữ, các nhà thần học nữ và các nhà thần bí nữ.

61. Bên trong cộng đoàn Kitô hữu, phải đặc biệt chú ý đến trẻ em: các em không chỉ cần được đồng hành trong hành trình lớn lên, mà các em còn có nhiều điều để cống hiến cho cộng đoàn tín hữu. Khi các tông đồ thảo luận với nhau ai là người lớn nhất, Chúa Giêsu đặt một em nhỏ vào giữa họ, giới thiệu em như tiêu chuẩn để vào Nước Trời (x. Mc 9,33-37). Giáo hội không thể có tính hiệp hành nếu không có sự đóng góp của trẻ em, là những thừa sai tiềm năng cần phải được trân trọng. Tiếng nói của các em rất cần cho cộng đoàn: Chúng ta phải lắng nghe tiếng nói ấy và quan tâm để bảo đảm rằng mọi người trong xã hội đều lắng nghe tiếng nói ấy, đặc biệt là những người có trách nhiệm về chính trị và giáo dục. Một xã hội không biết đón nhận và chăm sóc trẻ em là một xã hội đau bệnh; sự khốn khổ mà nhiều trẻ em phải gánh chịu do chiến tranh, nghèo đói và bị bỏ rơi, do lạm dụng và do nạn buôn người là một gương xấu đòi chúng ta phải có can đảm để tố cáo và phải dấn thân liên đới.

62. Giới trẻ cũng có phần để đóng góp vào việc canh tân Giáo hội theo tính hiệp hành. Họ đặc biệt nhạy cảm với các giá trị của tình huynh đệ và sự chia sẻ, đồng thời tẩy chay thái độ gia trưởng và độc tài. Đôi khi, thái độ của họ đối với Giáo hội có thể bị coi là thái độ chỉ trích, nhưng thường thì nó thể hiện cách tích cực như một dấn thân cá nhân để tạo nên một cộng đoàn biết đón nhận, được dành riêng cho cuộc chiến chống lại bất công xã hội và chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta. Lời yêu cầu “cùng nhau bước đi trong đời sống hằng ngày”, được đưa ra bởi các bạn trẻ trong Thượng Hội đồng dành cho họ vào năm 2018, hoàn toàn phù hợp với viễn cảnh của một Giáo hội hiệp hành. Vì lý do này, điều cốt yếu là chúng ta phải bảo đảm cho họ có được sự đồng hành cách sâu sắc và kiên nhẫn; đặc biệt, đề nghị về “một kinh nghiệm đồng hành theo tầm nhìn của sự phân định”, vốn đã được nêu lên nhờ sự đóng góp của chính người trẻ, xứng đáng được xem lại và tiếp tục thực hiện. Đề nghị này hướng đến: một tình huynh đệ được chia sẻ với các nhà giáo dục, một sự dấn thân tông đồ được thực hiện để phục vụ những người túng thiếu nhất, và việc cung cấp một nền linh đạo bắt nguồn từ cầu nguyện và đời sống bí tích (x. Văn kiện Chung kết của Thượng Hội đồng Giám mục Thường lệ lần thứ XV, “Người trẻ, đức tin và sự phân định ơn gọi”, 161).

63. Trong việc thúc đẩy tinh thần đồng trách nhiệm đối với sứ vụ của tất cả những người đã được rửa tội, chúng tôi nhìn nhận các khả năng tông đồ của những người khuyết tật, họ được kêu gọi và sai đi như những chủ thể tích cực của việc loan báo Tin mừng. Chúng tôi đề cao những đóng góp xuất phát từ kho tàng nhân văn to lớn mà họ mang nơi mình. Đồng thời, chúng tôi cũng ghi nhận những kinh nghiệm về đau khổ, bị gạt ra ngoài lề xã hội và bị phân biệt đối xử mà họ phải chịu đựng, đôi khi ngay cả trong cộng đoàn Kitô hữu, do thái độ thương xót có tính gia trưởng. Để khuyến khích sự tham gia của họ vào đời sống và sứ vụ của Giáo hội, chúng tôi đề xuất thành lập Cơ quan thúc đẩy nghiên cứu và quan sát trực thuộc Giáo hội dành cho người khuyết tật.

64. Trong số các ơn gọi làm cho Giáo hội nên phong phú, nổi bật lên ơn gọi của các đôi vợ chồng. Công đồng Vaticanô II dạy rằng: “Họ cũng nhận được những ơn riêng trong bậc sống và vai trò của họ giữa đoàn Dân Thiên Chúa” (LG 11). Bí tích Hôn phối ủy thác một sứ vụ đặc thù, liên quan đồng thời đến đời sống gia đình, việc xây dựng Giáo hội và việc dấn thân trong xã hội. Đặc biệt, trong những năm gần đây, người ta ngày càng nhận thức rõ rằng gia đình là tác nhân chăm sóc mục vụ gia đình, chứ không chỉ là người nhận nó. Để làm được điều này, họ cần gặp gỡ và kết nối, đặc biệt với sự giúp đỡ của các tổ chức Giáo hội chuyên lo việc giáo dục trẻ em và giới trẻ. Một lần nữa, Đài hội bày tỏ sự gần gũi và hỗ trợ đối với những người sống một mình như một lựa chọn trung thành với Truyền thống và Huấn quyền của Giáo hội về các vấn đề hôn nhân và đạo đức tính dục, trong lựa chọn đó, họ tìm thấy một nguồn sức sống.

65. Qua các thế kỷ, Giáo hội cũng đã được phong phú về mặt thiêng liêng nhờ vào nhiều hình thức đời sống thánh hiến khác nhau. Ngay từ đầu, Giáo hội đã nhìn nhận hoạt động của Chúa Thánh Thần trong cuộc sống của những người nam nữ đã chọn bước theo Chúa Kitô trên con đường của những lời khuyên Phúc âm, tận hiến mình để phục vụ Thiên Chúa trong việc chiêm niệm và trong nhiều hình thức phục vụ khác nhau. Đời sống thánh hiến được kêu gọi để chất vấn Giáo hội và xã hội bằng tiếng nói ngôn sứ của mình. Trong suốt lịch sử kéo dài qua nhiều thế kỷ, các hình thức đời sống thánh hiến khác nhau đã phát triển những gì mà ngày nay chúng ta nhìn nhận là những thực hành của lối sống hiệp hành. Những thực hành này bao gồm cách thực hiện phân định chung, và cách hài hòa các đặc sủng cá nhân với nhau, cũng như cách theo đuổi sứ vụ chung. Các dòng tu, các tu đoàn đời sống tông đồ, các tu hội đời cũng như các hiệp hội, các phong trào và các cộng đoàn mới có sự đóng góp đặc biệt vào việc phát triển tính hiệp hành trong Giáo hội. Ngày nay, nhiều cộng đoàn đời sống thánh hiến là một phòng thí nghiệm về đời sống liên văn hóa, đó là lời ngôn sứ cho Giáo hội và thế giới. Đồng thời, tính hiệp hành mời gọi - và đôi khi thách thức - các mục tử của các Giáo hội địa phương, cũng như những vị hữu trách về đời sống thánh hiến và các tổ chức Giáo hội hãy củng cố các mối tương quan nhằm dẫn tới việc trao đổi các hồng ân để phục vụ sứ vụ chung.

66. Sứ vụ thì liên quan đến tất cả mọi người đã nhận Phép rửa. Nhiệm vụ đầu tiên của người giáo dân là làm cho thấm nhuần và biến đổi các thực tại trần thế bằng tinh thần Tin mừng (x. LG 31 và 33; AA 5-7). Theo ý của Đức Giáo hoàng Phanxicô (x. Tông thư dưới hình thức Tự sắc Spiritus Domini, ngày 10 tháng 01 năm 2021), tiến trình Thượng Hội đồng kêu gọi các Giáo hội địa phương đáp ứng một cách sáng tạo và can đảm trước các nhu cầu của sứ vụ. Sự đáp ứng này cần gắn với việc phân định giữa các đặc sủng khác nhau để nhận diện đặc sủng nào nên mang hình thức thừa tác vụ và do đó được trang bị các tiêu chí, công cụ và thủ tục phù hợp. Không phải tất cả các đặc sủng đều phải được coi là thừa tác vụ, cũng như không phải tất cả những người đã nhận Phép rửa đều phải trở thành thừa tác viên, và cũng không phải tất cả các thừa tác vụ đều phải được chính thức thiết lập. Để một đặc sủng được định hình như một thừa tác vụ, cộng đoàn cần phải xác định nhu cầu mục vụ thực sự. Việc này cần được đi kèm bởi một sự phân định do vị mục tử, cùng với cộng đoàn của ngài sẽ quyết định liệu có cần lập ra một thừa tác vụ mới hay không. Vị có thẩm quyền sẽ đưa ra quyết định cho kết quả của tiến trình này. Một Giáo hội hiệp hành truyền giáo sẽ khích lệ nhiều hơn nữa các hình thức của thừa tác vụ giáo dân, nghĩa là các thừa tác vụ không đòi hỏi Bí tích Truyền chức, và điều này không chỉ liên quan đến khung cảnh phụng vụ. Các thừa tác vụ có thể được hoặc không được chính thức thiết lập. Cũng cần suy nghĩ thêm về cách hữu hiệu nhất để trao thừa tác vụ cho giáo dân trong một thời đại mà người ta di chuyển từ nơi này đến nơi khác ngày càng dễ dàng hơn, xác định rõ thời gian và khu vực thi hành thừa tác vụ của họ.

67. Trong số nhiều hoạt động phục vụ của Giáo hội được Đại hội này nhìn nhận là sự đóng góp cho sự hiểu biết đức tin và sự phân định mà thần học đưa ra với nhiều cách diễn tả khác nhau. Các nhà thần học giúp Dân Thiên Chúa phát triển sự hiểu biết về thực tại được soi sáng bởi mạc khải, và mở ra những câu trả lời phù hợp và ngôn ngữ thích đáng cho sứ vụ. Trong Giáo hội hiệp hành truyền giáo, “đặc sủng thần học được mời gọi đảm nhận một công việc phục vụ cụ thể […]. Cùng với kinh nghiệm đức tin và việc chiêm ngưỡng chân lý của các tín hữu và cùng với lời rao giảng của các mục tử, nó góp phần làm cho Tin mừng ngày càng thấm sâu hơn nữa. Ngoài ra, “như với bất kỳ ơn gọi Kitô giáo nào khác, sứ vụ của nhà thần học, ngoài tính chất cá nhân, còn mang tính cộng đoàn và hiệp đoàn” (ITC 75). Đặc biệt, sứ vụ này mang tính cộng đoàn và hiệp đoàn khi nó được thực thi dưới hình thức giảng dạy vốn được ủy thác theo giáo luật trong các học viện của Giáo hội. “Tính hiệp hành của Giáo hội, vì thế, đòi hỏi các nhà thần học làm thần học theo cách thức hiệp hành, thúc đẩy nơi họ khả năng lắng nghe, đối thoại, phân định và tích hợp tính đa dạng của các yêu cầu và các đóng góp khác nhau” (sđd.). Theo tầm nhìn này, thật khẩn thiết việc thúc đẩy đối thoại giữa các mục tử và những người dấn thân nghiên cứu thần học theo các hình thức thể chế phù hợp. Đại hội mời gọi các học viện thần học tiếp tục nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ và đào sâu ý nghĩa của tính hiệp hành và việc đào tạo có tính đồng hành tại các Giáo hội địa phương.

 

Các thừa tác viên có chức thánh phục vụ cho sự hòa hợp

Số 68. Giống như mọi thừa tác vụ trong Giáo hội, giám mục, linh mục và phó tế cũng phục vụ cho việc loan báo Tin mừng và xây dựng cộng đoàn Giáo hội. Công đồng Vaticanô II nhắc lại rằng thừa tác vụ có chức thánh do Thiên Chúa thiết lập “được thi hành theo những cấp bậc khác nhau mà từ xưa được gọi là giám mục, linh mục và phó tế” (LG 28). Trong bối cảnh này, Công đồng Vaticanô II đã khẳng định tính bí tích của chức giám mục (x. LG, số 21), đã khôi phục tính hiệp thông của chức linh mục (x. LG, số 28) và mở đường cho việc tái lập chức phó tế như một cấp bậc phẩm trật vĩnh viễn trong Giáo hội Latinh (x. LG 29).

 

Thừa tác vụ của Giám mục: Tích hợp các hồng ân của Chúa Thánh Thần trong sự hiệp nhất

69. Nhiệm vụ của vị giám mục là chủ tọa một Giáo hội địa phương, như một nguyên tắc hữu hình của sự hiệp nhất bên trong và là mối liên kết hiệp thông với tất cả các Giáo hội. Lời khẳng định của Công đồng, theo đó “việc thánh hiến giám mục trao ban sự sung mãn của Bí tích Truyền Chức” (LG 21), cho phép chúng ta hiểu căn tính của giám mục trong khuôn khổ các mối tương quan bí tích với Chúa Kitô và với “thành phần Dân Thiên Chúa” (CD 11) đã được giao phó cho ngài và được kêu gọi phục vụ nhân danh Chúa Kitô Mục Tử Nhân Lành. Người được tấn phong giám mục không mang vác những đặc quyền và những nhiệm vụ mà ngài phải hành xử một mình. Đúng hơn, ngài nhận được ân sủng và nhiệm vụ nhận biết, phân định và hợp nhất các hồng ân mà Thánh Thần tuôn đổ trên các cá nhân và các cộng đoàn, ngài làm việc với các linh mục và các phó tế theo một cách thế phản ánh mối liên kết bí tích chung; họ đồng trách nhiệm với ngài về việc phục vụ theo thừa tác vụ trong Giáo hội địa phương. Khi làm như vậy, vị giám mục nhận ra điều gì là thích hợp và chuyên biệt nhất đối với sứ vụ của ngài trong bối cảnh mà mối quan tâm của ngài hướng đến sự hiệp thông các Giáo hội.

70. Việc phục vụ của giám mục là việc phục vụ trong, với và vì cộng đoàn (x. LG 20), được thực hiện bằng việc rao giảng Lời Chúa, chủ tọa việc cử hành Thánh Thể và các bí tích khác. Vì thế, Đại hội Thượng Hội đồng ước mong Dân Thiên Chúa sẽ có tiếng nói lớn hơn trong việc lựa chọn các giám mục. Thượng Hội đồng cũng khuyến nghị rằng việc phong chức giám mục nên diễn ra tại giáo phận nơi ngài được bổ nhiệm làm mục tử chứ không phải ở giáo phận gốc như thường diễn ra. Thượng Hội đồng cũng khuyến nghị rằng vị chủ phong phải được chọn trong số các vị giám mục của giáo tỉnh ấy, bao gồm cả vị tổng giám mục trong khả năng có thể. Như thế sẽ thể hiện rõ hơn rằng người trở thành giám mục sẽ thiết lập một mối liên kết cụ thể với Giáo hội mà mình được bổ nhiệm, ngài công khai cam kết đảm nhận sứ vụ của mình trước Giáo hội ấy. Cũng quan trọng không kém, nhất là trong các chuyến viếng thăm mục vụ, vị giám mục có thể dành thời gian với các tín hữu để lắng nghe họ, như một phần trong việc phân định của ngài về các nhu cầu thực tế. Điều này cũng sẽ giúp các tín hữu trải nghiệm Giáo hội như gia đình của Thiên Chúa. Trong trường hợp của các giám mục hiệu tòa hiện nay, mối tương quan mang tính thể chế giữa giám mục với Giáo hội địa phương không được thấy rõ ràng, chẳng hạn như trường hợp các vị Đại diện Giáo hoàng, các vị phục vụ trong Giáo triều Rôma, và các giám mục phụ tá. Thật đáng tiếp tục suy nghĩ về vấn đề này.

71. Các Giám mục cũng cần được đồng hành và hỗ trợ trong sứ vụ của mình. Vị tổng giám mục có thể đóng một vai trò trong việc thúc đẩy tình huynh đệ giữa các giám mục của các giáo phận lân cận. Trong tiến trình Thượng Hội đồng, người ta đã thấy bộc lộ nhu cầu cung cấp các khóa thường huấn cho các giám mục, kể cả trong bối cảnh địa phương. Cũng nổi lên nhu cầu phải làm rõ vai trò của các giám mục phụ tá và việc mở rộng các nhiệm vụ mà các giám mục có thể ủy quyền. Kinh nghiệm của các vị nguyên giám mục chính tòa với vị thế mới của các ngài trong việc phục vụ Dân Thiên Chúa cũng phải được quan tâm. Việc quan trọng là giúp các tín hữu tránh những kỳ vọng quá mức và phi thực tế đối với giám mục, hãy nhớ rằng ngài cũng là một người anh em mỏng giòn, dễ bị cám dỗ, cần được giúp đỡ như bao người khác. Một hình ảnh lý tưởng hóa về thừa tác vụ giám mục, vốn là một thừa tác vụ đầy tế nhị và nhạy cảm, sẽ làm cho việc thi hành thừa tác vụ ấy trở nên khó khăn hơn. Mặt khác, thừa tác vụ giám mục sẽ được hỗ trợ mạnh mẽ khi nó được nâng đỡ bởi sự tham gia tích cực của toàn Dân Thiên Chúa trong một Giáo hội thực sự có tính hiệp hành.

 

Cùng với giám mục: các linh mục và phó tế

72. Trong một Giáo hội hiệp hành, các linh mục được kêu gọi thi hành việc phục vụ của mình trong thái độ gần gũi với dân chúng, nồng nhiệt tiếp đón và sẵn sàng lắng nghe mọi người, cởi mở theo phong cách hiệp hành. Các linh mục “cùng với giám mục của mình tạo thành linh mục đoàn duy nhất” (LG 28) và cộng tác với ngài trong việc phân định các đặc sủng cũng như trong việc đồng hành và hướng dẫn Giáo hội địa phương, đặc biệt chú ý đến việc bảo vệ sự hiệp nhất. Các linh mục được mời gọi sống tình liên đới với anh em linh mục đoàn và cộng tác trong việc đáp ứng mục vụ cho dân chúng. Các linh mục thuộc các dòng tu giúp làm phong phú cho linh mục đoàn với tính độc đáo nơi đặc sủng của mình. Họ, cùng với các linh mục đến từ các Giáo hội Đông phương tự trị (sui iuris) - độc thân hay kết hôn -, các linh mục fidei donum, và các vị đến từ các quốc gia khác, sẽ giúp hàng giáo sĩ địa phương mở ra với tầm nhìn về một Giáo hội toàn thể. Phần mình, các linh mục sở tại giúp các giáo sĩ từ nơi khác đến được hòa mình vào lịch sử của một giáo phận cụ thể, với những truyền thống và sự phong phú thiêng liêng của giáo phận đó. Bằng cách này, hàng linh mục cũng trải nghiệm một cuộc trao đổi đích thực các hồng ân để phục vụ cho sứ vụ của Giáo hội. Các linh mục cũng cần được đồng hành và hỗ trợ, đặc biệt trong những giai đoạn đầu của sứ vụ cũng như trong những lúc yếu đuối và mong manh.

73. Là tôi tớ phục vụ mầu nhiệm của Thiên Chúa và Giáo hội (x. LG 41), các phó tế được truyền chức “không phải để lãnh chức linh mục, nhưng để nhận một thừa tác vụ” (LG 29). Họ thi hành thừa tác vụ này qua việc phục vụ bác ái, qua việc loan báo và trong phụng vụ. Qua đó, họ làm hiện thực hóa mối liên hệ giữa Tin mừng và đời sống yêu thương trong bối cảnh Giáo hội và xã hội nơi họ hiện diện. Họ cũng thúc đẩy trong toàn thể Giáo hội một ý thức phục vụ và một phong cách đặc biệt phục vụ mọi người, nhất là những người nghèo khổ nhất. Như truyền thống cho thấy – qua lời nguyện truyền chức và qua thực hành mục vụ – các nhiệm vụ của phó tế rất đa dạng. Các phó tế đáp ứng các nhu cầu cụ thể của Giáo hội địa phương, đặc biệt là đánh thức và duy trì sự lưu tâm của mọi người đối với những người nghèo nhất, trong một Giáo hội hiệp hành, truyền giáo và thương xót. Thừa tác vụ của các phó tế vẫn chưa được nhiều Kitô hữu biết đến, một phần bởi vì - mặc dù đã được Vaticanô II tái lập như một cấp bậc phẩm trật riêng biệt và vĩnh viễn (x. LG 29) - nó vẫn chưa được tiếp nhận ở mọi nơi trên thế giới. Giáo huấn của Công đồng sẽ cần phải được khảo sát sâu hơn, đặc biệt trong ánh sáng của việc duyệt lại kinh nghiệm thực tế về chức phó tế. Giáo huấn này đã cung cấp các lý do chính đáng cho các Giáo hội địa phương không trì hoãn việc thúc đẩy chức phó tế vĩnh viễn cách rộng rãi hơn, nhìn nhận trong thừa tác vụ này là nguồn quý giá giúp cho sự trưởng thành của một Giáo hội phục vụ, theo gương Chúa Giêsu, Đấng đã trở thành tôi tớ của mọi người. Nhận thức sâu xa hơn này cũng có thể giúp hiểu rõ hơn ý nghĩa của việc truyền chức phó tế cho những người sẽ trở thành linh mục.

 

Sự cộng tác giữa các thừa tác viên có chức thánh trong một Giáo hội hiệp hành

74. Nhiều lần, trong tiến trình Thượng Hội đồng, lòng biết ơn đã được bày tỏ đối với các giám mục, linh mục và phó tế vì niềm vui, tinh thần dấn thân và sự tận tâm khi các ngài thi hành việc phục vụ của mình. Bên cạnh đó, cũng thường có những đề cập về các khó khăn thực tế mà các mục tử gặp phải trong thừa tác vụ. Những khó khăn này chủ yếu liên quan đến một cảm giác cô lập và cô đơn, cũng như việc cảm thấy bị choáng ngợp trước kỳ vọng đòi các ngài phải đáp ứng mọi nhu cầu. Kinh nghiệm của Thượng Hội đồng có thể là một câu trả lời cho thực tế này, giúp các giám mục, linh mục và phó tế tái khám phá tinh thần đồng trách nhiệm trong việc thực thi thừa tác vụ, vốn cũng bao gồm việc cộng tác với các thành viên khác của Dân Thiên Chúa. Một sự phân phối rộng rãi hơn các nhiệm vụ và các trách nhiệm, cũng như một sự phân định dũng cảm hơn về những gì chỉ thuộc riêng thừa tác vụ có chức thánh và những gì có thể và phải được ủy thác cho người khác, sẽ giúp cho mỗi thừa tác vụ được thi hành một cách lành mạnh hơn về mặt thiêng liêng và năng động hơn về mặt mục vụ. Viễn tượng này chắc chắn sẽ có hiệu ứng trên các tiến trình đưa ra quyết định, làm cho chúng có một đặc tính hiệp hành rõ hơn. Nó cũng sẽ giúp vượt qua chủ nghĩa giáo sĩ trị, được hiểu như việc sử dụng thẩm quyền cho lợi ích riêng mình và bóp méo quyền bính của Giáo hội là quyền bính để phục vụ Dân Thiên Chúa. Giáo sĩ trị bộc lộ trước hết trong các hình thức lạm dụng bởi các thừa tác viên của Giáo hội – dù đó là lạm dụng tình dục hay kinh tế, lạm dụng lương tâm hay quyền lực. “Chủ nghĩa giáo sĩ trị, dù được dung dưỡng bởi chính các linh mục hay bởi những người giáo dân, đều gây ra sự chia tách trong thân thể Giáo hội; sự chia tách này vừa khuyến khích vừa giúp duy trì nhiều sự ác mà ngày nay chúng ta tố giác.” (Đức Phanxicô, Thư gửi Dân Chúa, ngày 20 tháng 8 năm 2018).

 

Cùng nhau vì sứ vụ

75. Để đáp ứng các nhu cầu của cộng đoàn và sứ vụ, trong suốt lịch sử của mình, Giáo hội đã có các thừa tác vụ khác bên cạnh các thừa tác vụ có chức thánh. Các đặc sủng trở thành thừa tác vụ khi chúng được công khai nhìn nhận bởi cộng đoàn và bởi những người có trách nhiệm lãnh đạo cộng đoàn. Theo cách này, chúng được đặt ra để phục vụ cho sứ vụ một cách ổn định và nhất quán. Một cách chuyên biệt hơn, một số thừa tác vụ nhằm để phục vụ cộng đoàn Kitô hữu. Đặc biệt quan trọng là các thừa tác vụ được chính thức thiết lập. Những thừa tác vụ này được giám mục trao ban một lần cho cả đời, qua một nghi thức riêng, sau khi có sự phân định và đào tạo thích hợp đối với các ứng viên. Những thừa tác vụ này không thể bị giản lược thành một bài sai hay sự phân công nhiệm vụ đơn giản. Việc trao thừa tác vụ là một á bí tích sẽ hình thành con người và xác lập cách họ tham gia vào đời sống và sứ vụ của Giáo hội. Trong Giáo hội Latinh, điều này liên quan đến các thừa tác vụ Đọc Sách và Giúp Lễ (x. Đức Phanxicô, Tông thư dưới hình thức “Tự sắc” Spiritus Domini, ngày 10 tháng 01 năm 2021), và thừa tác vụ Giáo lý viên (x. Đức Phanxicô, Tông thư dưới dạng “Tự sắc” Antiquum Ministryium, 10 tháng 5 năm 2021). Một thẩm quyền hợp pháp sẽ thiết lập các điều khoản và các điều kiện cho việc thi hành các thừa tác vụ này. Các Hội đồng Giám mục thiết lập các điều kiện cá nhân mà ứng viên cho các thừa tác vụ này phải đáp ứng, và vạch ra các lộ trình đào tạo mà các ứng viên phải trải qua để tiếp cận các thừa tác vụ này.

76. Các thừa tác vụ được thiết lập chính thức được bổ sung bởi các thừa tác vụ không được thiết lập theo nghi thức, nhưng được thi hành một cách ổn định theo lệnh truyền của vị có thẩm quyền. Một số ví dụ của các thừa tác vụ này bao gồm tác vụ điều phối một Cộng đoàn Giáo hội nhỏ, hướng dẫn việc cầu nguyện của cộng đoàn, tổ chức các hoạt động bác ái, vân vân… Những tác vụ này có rất nhiều cách thể hiện, tùy vào các đặc điểm của cộng đoàn địa phương. Một ví dụ về điều này là các giáo lý viên luôn phụ trách các cộng đoàn không có linh mục ở nhiều vùng thuộc châu Phi. Mặc dù không có nghi thức được quy định, việc công khai ủy nhiệm qua một bài sai nên được làm trước cộng đoàn, để thúc đẩy sự nhìn nhận hiệu năng của nó. Ngoài ra còn có các thừa tác vụ ngoại thường, bao gồm thừa tác vụ ngoại thường cho rước lễ, việc chủ tọa phụng vụ ngày Chúa nhật khi không có linh mục, việc trao ban một số á bí tích, và những trường hợp khác. Giáo luật của Giáo hội Latinh và Giáo hội Đông phương đã quy định rằng trong một số trường hợp, tín hữu giáo dân, nam hay nữ, cũng có thể là thừa tác viên ngoại thường của Bí tích Rửa tội. Trong Giáo luật Latinh, giám mục (với sự cho phép của Tòa thánh) có thể ủy quyền chứng hôn cho giáo dân, nam hay nữ. Dựa trên nhu cầu của các bối cảnh địa phương, cần xem xét khả năng mở rộng và ổn định những cơ hội thực thi các thừa tác vụ của giáo dân. Cuối cùng, có những việc phục vụ tự phát, không cần thêm điều kiện hay sự nhìn nhận minh nhiên. Chúng cho thấy rằng tất cả các tín hữu, bằng nhiều cách khác nhau, đều tham gia vào sứ vụ thông qua các hồng ân và các đặc sủng của mình.

77. Các tín hữu giáo dân, nam cũng như nữ, cần được tạo cơ hội tham gia nhiều hơn, cũng như cần khám phá các hình thức mới của việc phục vụ và thừa tác vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu mục vụ của thời đại, trong tinh thần cộng tác và đồng trách nhiệm trong sự khác biệt. Đặc biệt, một số nhu cầu cụ thể đã được ghi nhận từ tiến trình Thượng Hội đồng. Những nhu cầu này cần được đáp ứng cách thích hợp theo các bối cảnh khác nhau:

a) tăng cường sự tham gia của giáo dân nam nữ vào các tiến trình phân định của Giáo hội và vào tất cả các giai đoạn của tiến trình đưa ra quyết định (phác thảo, đưa ra và củng cố các quyết định);

b) mở rộng hơn cơ hội tiếp cận của giáo dân nam nữ vào các vị trí trách nhiệm trong các giáo phận và các tổ chức Giáo hội, bao gồm các chủng viện, các học viện và các phân khoa thần học, phù hợp với các quy định hiện hành;

c) công nhận và hỗ trợ nhiều hơn cho đời sống và đặc sủng của những người sống đời thánh hiến nam nữ, cũng như để họ đảm nhận các vị trí trách nhiệm trong Giáo hội.

d) gia tăng số lượng giáo dân nam nữ có trình độ để phục vụ với tư cách thẩm phán trong tất cả các tiến trình giáo luật;

e) thật sự nhìn nhận phẩm giá và tôn trọng các quyền của những nhân viên làm việc trong Giáo hội và trong các tổ chức của Giáo hội.

78. Tiến trình Thượng Hội đồng đã canh tân nhận thức rằng việc lắng nghe là một phần thiết yếu trong mọi khía cạnh của đời sống Giáo hội: trong việc cử hành các bí tích đặc biệt là Bí tích Hòa giải, trong việc dạy giáo lý, việc đào tạo và việc đồng hành mục vụ. Trong ánh sáng này, Đại hội cũng chú ý đến đề nghị về việc thiết lập một thừa tác vụ Lắng nghe và đồng hành, nó cho thấy nhiều viễn tượng khác nhau. Một số người tán thành đề nghị này, vì một thừa tác vụ như thế sẽ là một cách thức có tính ngôn sứ để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lắng nghe và đồng hành trong cộng đoàn. Những người khác cho rằng việc lắng nghe và đồng hành là nhiệm vụ của mọi người đã được rửa tội, nên không cần có một thừa tác vụ riêng biệt. Và có những người khác nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn, chẳng hạn về mối tương quan của thừa tác vụ Lắng nghe và đồng hành này với việc đồng hành thiêng liêng, việc tư vấn mục vụ và việc cử hành Bí tích Hòa giải. Cũng có đề nghị rằng một ‘thừa tác vụ lắng nghe và đồng hành’ nên nhắm cách riêng đến mục đích tiếp đón những người ở bên lề cộng đoàn Giáo hội, những người trở về sau khi rời đi, và những người đang tìm kiếm sự thật và mong muốn được giúp đỡ để gặp Chúa. Do đó, cần phải tiếp tục phân định về vấn đề này. Các bối cảnh địa phương nơi nhu cầu này được cảm nhận rõ nhất có thể thử xem xét các cách thức khả thi để đặt cơ sở cho việc phân định.

 

Phần III – THẢ LƯỚI

Hoán cải các tiến trình

“Đức Giêsu nói với các ông: “Này các chú, không có gì ăn ư?” Các ông trả lời: “Thưa không.” Người bảo các ông: “Hãy thả lưới xuống bên phải mạn thuyền, thì sẽ bắt được cá.” Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá” (Ga 21,5-6).

79. Việc đánh cá chẳng mang lại kết quả gì và bây giờ là lúc phải quay lại bờ. Tuy nhiên, một giọng nói đầy uy quyền vang lên mời gọi các môn đệ làm điều mà tự mình có lẽ họ sẽ không làm, và chỉ ra cho họ một khả năng mà mắt và tâm trí họ không thể thấy và cảm nhận được: “Hãy thả lưới xuống bên phải mạn thuyền, thì sẽ bắt được cá”. Trong suốt tiến trình Thượng Hội đồng, chúng ta đã tìm cách lắng nghe Tiếng nói này và đón nhận những gì Tiếng nói này đang nói với chúng ta. Trong cầu nguyện và đối thoại huynh đệ, chúng ta đã nhận ra rằng sự phân định của Giáo hội, sự chăm chút các tiến trình đưa ra quyết định, cùng với sự cam kết giải trình và đánh giá kết quả của các quyết định, là những thực hành qua đó chúng ta đáp lại Lời Chúa, vốn chỉ cho chúng ta thấy những lộ trình của sứ vụ.

80. Ba thực hành này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Các tiến trình đưa ra quyết định cần sự phân định của Giáo hội, sự phân định của Giáo hội đòi hỏi việc lắng nghe trong bầu khí tin tưởng, việc lắng nghe trong bầu khí tin tưởng được hỗ trợ bởi sự minh bạch và giải trình. Sự tin tưởng phải có tính hỗ tương: những người đưa ra quyết định phải có khả năng tin tưởng và lắng nghe Dân Thiên Chúa, Dân Thiên Chúa phải có khả năng tin tưởng những người thực thi thẩm quyền. Tầm nhìn toàn diện này có ý nhấn mạnh rằng mỗi thực hành kể trên đều phụ thuộc và hỗ trợ những thực hành khác, nhờ đó Giáo hội có khả năng hoàn thành sứ vụ. Việc tham gia vào các tiến trình đưa ra quyết định dựa trên sự phân định của Giáo hội cùng với việc áp dụng một văn hóa minh bạch, giải trình và có đánh giá lại đòi hỏi một sự đào tạo đầy đủ không chỉ về mặt chuyên môn mà còn về khả năng khám phá các nền tảng thần học, Kinh thánh và linh đạo. Mọi người đã được rửa tội đều cần được đào tạo về chứng tá, sứ vụ, sự thánh thiện và phục vụ, với điểm nhấn là tinh thần đồng trách nhiệm. Sự đào tạo này có những hình thức đặc thù đối với những vị hữu trách hoặc những vị phục vụ trong việc phân định của Giáo hội.

 

Sự phân định của Giáo hội hướng đến sứ vụ

81. Việc ưu tiên để thúc đẩy các mối tương quan có khả năng nâng đỡ và định hướng sứ vụ của Giáo hội là phải thực thi sự khôn ngoan của Tin mừng, chính sự khôn ngoan này đã cho phép cộng đoàn tông đồ ở Giêrusalem ghi dấu kết quả của công đồng đầu tiên bằng những lời sau đây: “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định” (Cv 15,28). Chúng ta có thể coi sự phân định này là “của Giáo hội” vì được Dân Thiên Chúa thực hiện theo định hướng sứ vụ. Thánh Thần mà Chúa Cha sai đến nhân danh Đức Giêsu và là Đấng phán dạy mọi điều (x. Ga 14,26) sẽ dẫn dắt các tín hữu ở mọi thời đến với “sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Nhờ sự hiện diện và hoạt động không ngừng của Chúa Thánh Thần, “thánh truyền do các tông đồ truyền lại được tiếp nối trong Giáo hội” (DV 8). Khi nài xin ánh sáng của Chúa Thánh Thần, Dân Thiên Chúa, những người tham dự vào chức năng ngôn sứ của Đức Kitô (x. LG 12), sẽ “cố gắng phân định đâu là những dấu chỉ xác thực về sự hiện diện hoặc ý định của Thiên Chúa trong các biến cố, các nhu cầu và ước vọng mà họ đang dự phần cùng với những người đương thời” (GS 11). Sự phân định này sử dụng mọi ơn khôn ngoan mà Chúa ban phát trong Giáo hội và bắt nguồn từ cảm thức đức tin được Thánh Thần thông truyền cho tất cả những người đã được rửa tội. Theo tinh thần này, đời sống của Giáo hội có tính hiệp hành truyền giáo phải được hiểu lại và định hướng lại.

82. Sự phân định của Giáo hội không mang tính kỹ thuật tổ chức mà là sự thực hành thiêng liêng dựa trên đức tin sống động. Nó đòi hỏi sự tự do nội tâm, lòng khiêm nhường, việc cầu nguyện, sự tin tưởng lẫn nhau, sự cởi mở với điều mới mẻ và sự quy phục thánh ý Thiên Chúa. Phân định không bao giờ là sự khẳng định quan điểm cá nhân hoặc nhóm, và cũng không là sự giải quyết đơn giản bằng cách tổng hợp các ý kiến cá nhân. Mỗi người, khi lên tiếng theo lương tâm của mình, mở lòng lắng nghe những gì người khác chia sẻ theo lương tâm của họ, để rồi cùng tìm cách nhận ra “điều Thần Khí nói với các Hội thánh” (Kh 2,7). Với sự đóng góp của mọi người liên quan, sự phân định của Giáo hội vừa là điều kiện vừa là sự diễn tả ưu tiên của tính hiệp hành, trong đó sự hiệp thông, sứ vụ và sự tham gia cùng được tỏ bày. Mọi người càng được lắng nghe, sự phân định càng phong phú. Vì vậy, điều thiết yếu là phải thúc đẩy sự tham gia rộng rãi vào các tiến trình phân định, đặc biệt phải lưu tâm đến sự tham gia của những người ở bên lề cộng đoàn Kitô hữu và xã hội.

83. Việc lắng nghe Lời Chúa là khởi điểm và là tiêu chuẩn cho mọi cuộc phân định của Giáo hội. Thật vậy, Kinh thánh làm chứng rằng Thiên Chúa đã nói với Dân Ngài đến mức bày tỏ cho chúng ta sự viên mãn của toàn bộ mạc khải trong Chúa Giêsu (DV 2) và chỉ ra những nơi chúng ta có thể nghe được tiếng Chúa. Trước hết, Thiên Chúa nói với chúng ta trong phụng vụ, vì chính Chúa Kitô lên tiếng nói “khi người ta đọc Thánh kinh trong Giáo hội” (SC 7). Thiên Chúa nói qua Truyền thống sống động của Giáo hội, qua Huấn quyền, qua việc suy niệm Kinh thánh của cá nhân và cộng đoàn, và qua các thực hành đạo đức bình dân. Thiên Chúa tiếp tục tự biểu lộ qua tiếng kêu của người nghèo và qua các biến cố lịch sử nhân loại. Thiên Chúa còn truyền đạt cho Dân Ngài qua các yếu tố của vũ trụ, mà chính sự tồn tại của chúng phản chiếu hành động của Đấng Tạo Hóa và chúng được lấp đầy bởi sự hiện diện của Thần Khí trao ban sự sống. Cuối cùng, Thiên Chúa cũng nói qua lương tâm cá nhân của mỗi người, đó là “nơi tận cùng sâu kín nhất, là cung thánh của lòng người, nơi đây chỉ còn một mình con người với Thiên Chúa, Đấng đang lên tiếng trong thâm tâm con người” (GS 16). Sự phân định của Giáo hội đòi hỏi việc không ngừng bồi dưỡng và đào tạo lương tâm, cũng như sự trưởng thành của cảm thức đức tin, để không bỏ qua bất kỳ nơi nào mà Thiên Chúa lên tiếng và đến gặp gỡ Dân Người.

84. Các bước phân định của Giáo hội có thể sẽ tiến hành khác nhau tùy thuộc vào nơi chốn và các truyền thống. Tuy nhiên, dựa trên kinh nghiệm của Thượng Hội đồng, chúng ta có thể xác định một số yếu tố chính không được thiếu:

a) trình bày rõ ràng mục tiêu phân định đồng thời cung cấp thông tin và các phương cách thích hợp để hiểu đúng mục tiêu đó;

b) dành thời gian thích hợp để chuẩn bị qua việc cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa và suy nghĩ về chủ đề;

c) giữ sự tự do nội tâm đối với những lợi ích riêng của cá nhân và của nhóm, hết lòng kiếm tìm ích chung;

d) tôn trọng và hết lòng lắng nghe lời người khác nói;

e) tìm kiếm sự đồng thuận rộng rãi nhất có thể, sự đồng thuận sẽ xuất hiện qua những gì làm “lòng chúng ta bừng cháy” (x. Lc 24,32), không che giấu những xung đột, cũng không tìm kiếm những thỏa hiệp dễ dãi nửa vời;

f) người điều phối tiến trình phải soạn thảo bản đồng thuận đã đạt được và trình bày bản đồng thuận đó cho mọi người tham gia để họ có thể cho biết họ có thừa nhận bản đồng thuận đó hay không.

Trên cơ sở phân định, quyết định phù hợp sẽ chín muồi. Quyết định này đòi hỏi sự tuân thủ của mọi người ngay cả với những người mà ý kiến của họ không được chấp nhận, và cần có thời gian để cộng đồng đón nhận với việc xem xét và đánh giá thêm.

85. Việc phân định luôn diễn ra trong một bối cảnh cụ thể, với những phức tạp và đặc thù cần được nắm bắt một cách đầy đủ nhất có thể. Để việc phân định thực sự mang tính “Giáo hội”, chúng ta phải sử dụng những phương cách cần thiết. Những phương cách này bao gồm: việc chú giải Kinh thánh cách thích đáng để giúp giải thích và hiểu rõ các bản văn Kinh thánh, tránh những cách tiếp cận phiến diện hoặc quá khích; sự hiểu biết về các giáo phụ, về truyền thống và giáo huấn của huấn quyền, tùy theo mức độ thẩm quyền khác nhau của các nguồn ấy; sự đóng góp của các ngành thần học khác nhau; những đóng góp của khoa học nhân văn, lịch sử, xã hội và quản trị hành chính, nếu không có những đóng góp vừa kể thì chúng ta không thể hiểu đúng bối cảnh mà sự phân định diễn ra và nhắm đến.

86. Giáo hội có nhiều cách tiếp cận và nhiều phương pháp luận vững chắc để phân định. Sự đa dạng phong phú của các phương pháp tiếp cận này khi được thích ứng cách phù hợp với các bối cảnh khác nhau cho thấy nó mang lại những hiệu quả tích cực. Nhắm đến sứ vụ chung, điều quan trọng là phải đưa các cách tiếp cận này vào cuộc đối thoại chân tình, không loại trừ những nét đặc thù của mỗi bên cũng không khép kín nơi bản sắc của mình. Tại các Giáo hội địa phương, bắt đầu từ các cộng đoàn Giáo hội nhỏ và các giáo xứ, điều thiết yếu là cung cấp các cơ hội đào tạo nhằm lan tỏa và nuôi dưỡng nền văn hóa phân định của Giáo hội nhằm hướng đến sứ vụ. Việc đào tạo này đặc biệt cần thiết cho những vị hữu trách. Điều quan trọng không kém là đảm bảo việc đào tạo cho các hướng dẫn viên hoặc điều phối viên, sự góp phần của họ thường tỏ ra rất quan trọng trong tiến trình phân định.

 

Cơ cấu của tiến trình đưa ra quyết định

87. Trong Giáo hội hiệp hành, “toàn thể cộng đoàn, trong tính đa dạng tự do và phong phú của các thành viên, được triệu mời để cầu nguyện, lắng nghe, phân tích, đối thoại, phân định và bày tỏ ý kiến trong việc đưa ra các quyết định” (ITC 68) hướng đến sứ vụ. Phương cách hiệu quả nhất để thăng tiến một Giáo hội hiệp hành là cổ võ sự tham gia sâu rộng nhất có thể của toàn Dân Thiên Chúa vào các tiến trình đưa ra quyết định. Quả vậy, nếu đúng là tính hiệp hành xác định cách sống và hoạt động để qua đó làm nên bản chất của Giáo hội, thì đồng thời nó cũng chỉ ra một thực hành thiết yếu trong việc hoàn thành sứ vụ của Giáo hội, đó là phân định, đạt sự đồng thuận, đưa ra quyết định bằng cách vận dụng các cơ cấu và thiết chế khác nhau của tính hiệp hành.

88. Cộng đoàn các môn đệ được Chúa kêu gọi và sai đi không phải là một thực thể đồng nhất và cũng không phải là một thực thể vô định hình. Đó là Thân Thể của Chúa bao gồm nhiều chi thể khác nhau, một cộng đoàn với lịch sử trong đó Nước Thiên Chúa xuất hiện như “hạt mầm và điểm khai nguyên” để phục vụ cho sự hiển trị của Nước Thiên Chúa trong toàn thể gia đình nhân loại (x. LG 5). Các giáo phụ đã suy tư về bản chất cộng đoàn của sứ vụ Dân Thiên Chúa qua bộ ba “không có gì mà không có” (nihil sine): “Không có gì mà không có giám mục” (Thánh Inhaxiô thành Antiokia, Thư gửi các tín hữu ở Tralles 2,2), “không có gì mà không có hội đồng của anh em [của linh mục và phó tế] và không có gì mà không có sự đồng thuận của dân chúng” (Thánh Cyprianô thành Carthage, Thư gửi cho các anh em linh mục và phó tế, 14,4). Nơi nào luận lý “không có gì mà không có” này bị phá vỡ, thì nơi đó căn tính của Giáo hội bị lu mờ và sứ vụ của Giáo hội bị ngưng trệ.

89. Chính khuôn khổ Giáo hội học này sẽ định hình việc dấn thân thúc đẩy sự tham gia dựa trên tính đồng trách nhiệm trong sự khác biệt. Mỗi thành viên của cộng đoàn phải được tôn trọng qua việc đánh giá cao các hồng ân và các khả năng của họ nhằm hướng đến mục tiêu đưa ra quyết định chung. Cần có các hình thức thể chế trung gian ít hay nhiều chặt chẽ tùy theo tầm vóc của cộng đoàn. Luật hiện hành đã có quy định về các tổ chức tham gia như vậy ở nhiều cấp độ khác nhau, đây là điều sẽ được đề cập sau trong tài liệu này.

90. Cần phải suy tư về các tiến trình đưa ra quyết định để bảo đảm tính hiệu quả của chúng. Các tiến trình này thường bao gồm một giai đoạn triển khai và chuẩn bị “qua việc cùng nhau tiến hành phân định, xin ý kiến và cộng tác” (ITC 69), điều này sẽ mang lại sự hướng dẫn và nền tảng cho việc đưa ra quyết định sau đó của vị có thẩm quyền. Không có sự cạnh tranh hoặc xung đột giữa hai yếu tố: thỉnh ý và ra quyết định của tiến trình này; đúng hơn, qua sự vận hành của tiến trình, cả hai đều góp phần bảo đảm rằng các quyết định được đưa ra là kết quả từ sự vâng phục của mọi người đối với những gì Thiên Chúa muốn cho Giáo hội của Ngài. Vì lý do này, cần cổ võ các quy trình tạo ra sự hỗ tương giữa cộng đoàn và vị chủ tọa trong bầu khí cởi mở với Chúa Thánh Thần và tin tưởng lẫn nhau để tìm kiếm một sự đồng tâm nhất trí hết sức có thể. Tiến trình này cũng phải bao gồm giai đoạn thực hiện và đánh giá quyết định đã được chấp nhận, khi đó những người có liên quan sẽ vận hành các giai đoạn này theo những cách thức mới.

91. Trong một số trường hợp, luật hiện hành quy định những vị có thẩm quyền phải tiến hành việc thỉnh ý trước khi đưa ra quyết định. Vị có thẩm quyền mục vụ có bổn phận phải lắng nghe những người được thỉnh ý và, do dó, không được hành động như thể chưa hề thỉnh ý họ. Vì thế, vị này sẽ không bỏ qua kết quả của việc thỉnh ý vốn đã đạt được một sự đồng thuận nếu không có lý do vượt trội (x. CIC điều 127, § 2, 2°; CCEO điều 934, § 2, 3°). Như trong bất kỳ cộng đoàn nào sống theo lẽ công bằng, việc thực thi quyền bính trong Giáo hội không phải là sự áp đặt ý chí một cách tùy tiện. Đúng hơn, thẩm quyền luôn phải được thực thi để phục vụ cho sự hiệp thông và sự đón nhận Chúa Kitô, Đấng là sự thật mà theo đó Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta trong những thời khắc và bối cảnh khác nhau (x. Ga 14,16).

92. Trong một Giáo hội hiệp hành, thẩm quyền đưa ra quyết định của giám mục, giám mục đoàn và Giám mục Rôma là bất khả xâm phạm, bởi vì nó xuất phát từ cơ cấu phẩm trật của Giáo hội do Đức Kitô thiết lập, để phục vụ sự hiệp nhất và tôn trọng sự đa dạng hợp pháp (x. LG 13). Tuy nhiên, thẩm quyền này không phải là vô điều kiện: không thể bỏ qua một định hướng nảy sinh trong quá trình thỉnh ý như là kết quả của sự phân định đúng đắn, đặc biệt nếu được thực hiện bởi các tổ chức tham gia. Do đó, sự đối lập giữa việc thỉnh ý và cân nhắc là không phù hợp: trong Giáo hội, việc đắn đo cân nhắc diễn ra với sự trợ giúp của mọi người, và cũng không bao giờ thiếu thẩm quyền mục vụ vốn quyết định dựa trên chức vụ tương ứng. Vì lý do này, công thức mang tính lật lại trong Bộ Giáo luật, nói về việc biểu quyết “chỉ mang tính tham vấn” (tantum consultivum) phải được xem xét lại để loại bỏ những mơ hồ có thể xảy ra. Do đó, có lẽ nên tiến hành xét duyệt lại Bộ Giáo luật từ viễn cảnh hiệp hành, nhằm làm sáng tỏ cả sự khác biệt lẫn sự vận hành ăn khớp giữa việc thỉnh ý và cân nhắc, đồng thời làm sáng tỏ trách nhiệm của những người với các chức năng khác nhau tham gia vào tiến trình đưa ra quyết định.

93. Sự quan tâm tiến hành theo quy định cũng như việc nhận thức rõ ràng về trách nhiệm của những người tham gia là các yếu tố quyết định sự thành công của tiến trình đưa ra quyết định như được dự kiến ở đây:

a) đặc biệt, trách nhiệm của thẩm quyền là: xác định rõ mục tiêu cần thỉnh ý và cân nhắc, cũng như xác định vị có thẩm quyền đưa ra quyết định; nhận diện những người cần được hỏi ý kiến, cả vì họ có chuyên môn cụ thể hay vì họ tham gia vào vụ việc; đảm bảo rằng tất cả những người tham gia đều có được các thông tin liên quan để họ có thể đưa ra ý kiến riêng sau khi đã suy nghĩ chín chắn;

b) những người bày tỏ ý kiến của mình trong việc thỉnh ý, với tư cách cá nhân hoặc thành viên của một tổ chức hiệp đoàn giám mục, đều có trách nhiệm: đưa ra ý kiến chân thành và trung thực với sự hiểu biết và lương tri của mình; tôn trọng tính bảo mật của thông tin nhận được; trình bày rõ ràng ý kiến của mình, bằng cách xác định những điểm chính của ý kiến đó để vị có thẩm quyền, trong trường hợp đưa ra quyết định khác với ý kiến nhận được, có thể giải thích cách họ xem xét ý kiến đó khi cân nhắc;

c) Một khi vị có thẩm quyền đã đưa ra quyết định với sự tôn trọng quá trình thỉnh ý và tỏ bày rõ ràng lý do của quyết định đó, thì mọi người, vì mối hiệp thông liên kết của những người đã được rửa tội, phải tôn trọng và thực hiện quyết định đó, ngay cả khi nó không phù hợp với quan điểm của mình, không kể trong nghĩa vụ tham gia một cách trung thực vào giai đoạn đánh giá quyết định. Vẫn luôn có thể khiếu nại lên thẩm quyền cao hơn, theo các thủ tục do luật quy định.

94. Việc thực hiện các tiến trình đưa ra quyết định một cách đúng đắn và kiên quyết, và theo phong cách hiệp hành, sẽ góp phần vào sự tiến bộ của Dân Thiên Chúa theo chiều hướng có sự tham gia, đặc biệt là việc thực hiện thông qua các phương cách thể chế được quy định bởi Giáo luật, cụ thể là thông qua các tổ chức tham gia. Nếu sắp tới không có những thay đổi cụ thể, tầm nhìn về một Giáo hội hiệp hành sẽ không đáng tin cậy, điều này sẽ khiến các thành viên Dân Thiên Chúa vốn đã tìm được sức mạnh và niềm hy vọng từ tiến trình hiệp hành phải lui xa. Các Giáo hội địa phương phải tìm ra những phương thức thích hợp để thực hiện những thay đổi này.

 

Tính minh bạch, việc giải trình và sự đánh giá

95. Việc ra quyết định không kết thúc tiến trình phân định. Điều này phải được đi kèm và tiếp nối bằng các hoạt động giải trình và đánh giá, trên tinh thần minh bạch lấy nguồn cảm hứng từ Tin mừng. Việc giải trình về thừa tác vụ của mình với cộng đoàn là điều thuộc về truyền thống lâu đời nhất của Giáo hội, có từ thời các Tông đồ. Chương 11 của Công vụ Tông đồ cho chúng ta một ví dụ: Phêrô trở về Giêrusalem sau khi đã làm Phép rửa cho ông Cornêliô, một người ngoại đạo, “các người thuộc giới cắt bì chỉ trích ông, họ nói: ‘Ông đã vào nhà những kẻ không cắt bì và cùng ăn uống với họ!’” (Cv 11,2-3). Phêrô trả lời bằng cách thuật lại những chuyện đã xảy ra nhằm giải trình các lý do cho hành động của mình.

96. Đặc biệt, liên quan đến tính minh bạch, có vẻ cần phải xác định rõ ý nghĩa của nó bằng cách liên kết nó với một loạt các thuật ngữ như: sự thật, sự chân thành, sự trong sáng, sự trung thực, sự liêm chính, sự nhất quán; loại trừ sự mơ hồ, giả hình và hàm hồ; không có những động cơ thầm kín. Chúng liên quan đến mối phúc Tin mừng dành cho những ai có tâm hồn trong sạch (x. Mt 5,8), lệnh truyền hãy “đơn sơ như bồ câu” (Mt 10,16), cũng như những lời của Tông đồ Phaolô: “Chúng tôi khước từ những cách hành động ám muội, đáng xấu hổ, và không dùng mưu mô mà xử trí, cũng chẳng xuyên tạc lời Thiên Chúa; nhưng chúng tôi giãi bày sự thật, và bằng cách đó, chúng tôi để cho lương tâm mọi người phê phán trước mặt Thiên Chúa” (2Cr 4,2). Do đó, chúng ta đang nói đến một thái độ căn bản bắt nguồn từ Kinh thánh, chứ không phải là một loạt các yêu cầu có tính thủ tục, hành chánh hoặc quản lý. Sự minh bạch, theo đúng nghĩa của Tin mừng, không làm tổn hại đối với sự riêng tư và tính bảo mật, cũng như đối với việc bảo vệ con người, bảo vệ phẩm giá và các quyền của họ, ngay cả trước những yêu sách không chính đáng của chính quyền dân sự. Tuy nhiên, tất cả những điều này không bao giờ có thể biện minh cho những thực hành trái với Tin mừng, hay trở thành cớ cho việc bao che hoặc để né tránh những hành động chống lại sự dữ. Dẫu có thế nào, liên quan đến bí mật tòa giải tội, thì “Ấn tích tòa giải tội là điều bắt buộc và không một thế lực nhân loại nào có quyền phán quyết trên nó, cũng như định đoạt nó” (Diễn văn của Đức Giáo hoàng Phanxicô với các Tham dự viên Khóa học do Tòa Ân giải tổ chức, ngày 29 tháng 3 năm 2019).

97. Thái độ minh bạch, theo nghĩa vừa được chỉ ra, là bảo đảm cho sự tin tưởng và tín nhiệm không thể thiếu đối với một Giáo hội hiệp hành chú trọng đến các mối tương quan. Khi lòng tin tưởng này bị xâm phạm, những người yếu đuối nhất và dễ bị tổn thương nhất sẽ phải chịu đau khổ nhiều nhất. Bất cứ nơi đâu Giáo hội được tin tưởng, việc thực hành tính minh bạch, sự giải trình và sự đánh giá sẽ giúp củng cố uy tín của Giáo hội. Những thực hành này thậm chí còn quan trọng hơn khi uy tín của Giáo hội cần được xây dựng lại. Chúng đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ trẻ vị thành niên và người dễ bị tổn thương.

98. Những thực hành này góp phần bảo đảm sự trung thành của Giáo hội với sứ vụ của mình. Việc thiếu những thực hành này là một trong những hậu quả của thói giáo sĩ trị, và đồng thời dung dưỡng thói xấu này. Giáo sĩ trị dựa trên giả định ngầm rằng những người có thẩm quyền trong Giáo hội không phải giải trình về các hành động và các quyết định của họ, như thể họ tách biệt hoặc thuộc tầng lớp trên so với phần còn lại của Dân Thiên Chúa. Tính minh bạch và sự giải trình không chỉ được nêu lên khi nói đến lạm dụng tình dục, lạm dụng tài chính và các hình thức lạm dụng khác. Điều này cũng liên quan đến lối sống của các mục tử, các kế hoạch mục vụ, các phương pháp loan báo Tin mừng và các cách thức Giáo hội tôn trọng phẩm giá con người, chẳng hạn liên quan đến điều kiện làm việc trong các tổ chức của Giáo hội.

99. Để Giáo hội hiệp hành được đón nhận, việc giải trình phải trở thành thực hành bình thường ở mọi cấp độ. Tuy nhiên, về mặt này những vị có thẩm quyền thì có trách nhiệm lớn hơn, họ được kêu gọi giải trình với Thiên Chúa và Dân Người. Nếu việc thực hành giải trình với bề trên đã được duy trì suốt nhiều thế kỷ thì chiều kích giải trình mà vị có thẩm quyền được mời gọi thực hiện đối với cộng đoàn phải được khôi phục. Các cơ cấu và các tiến trình đã được củng cố trong kinh nghiệm đời sống thánh hiến (như các công nghị, các cuộc kinh lý theo giáo luật, v.v…) có thể giúp gợi ý về khía cạnh này.

100. Tương tự, cần phải có các cơ cấu và phương thức để đánh giá thường xuyên cách thực hiện các trách nhiệm theo thừa tác vụ. Việc đánh giá đó không phải là sự xét đoán các cá nhân mà đúng hơn nó cho phép làm nổi bật các khía cạnh tích cực và các lĩnh vực có thể cải thiện đối với những hoạt động của người có trách nhiệm theo thừa tác vụ, đồng thời giúp Giáo hội rút ra các bài học kinh nghiệm, điều chỉnh các kế hoạch hành động, tập trung chú ý vào kết quả của các quyết định liên quan đến sứ vụ, và duy trì lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần.

101. Ngoài việc tuân thủ những gì đã được các quy tắc giáo luật quy định liên quan đến các tiêu chí và các cơ cấu kiểm soát, các Giáo hội địa phương và các nhóm Giáo hội phải xây dựng các thể thức và quy trình hữu hiệu để giải trình và đánh giá theo cách thức hiệp hành. Các thể thức và quy trình này sẽ được thích ứng theo các bối cảnh khác nhau, dựa trên khuôn khổ pháp lý dân sự, những kỳ vọng chính đáng của xã hội và các nhà chuyên môn sẵn có trong lĩnh vực này. Cũng cần phải ưu tiên cho các phương pháp đánh giá có sự tham gia, phát huy kỹ năng của những người, đặc biệt là giáo dân, có am hiểu hơn về việc giải trình và đánh giá, đồng thời phải phân định đâu là những thực hành tốt đã có trong xã hội dân sự địa phương, rồi thích ứng chúng vào bối cảnh Giáo hội. Cách thực hiện các tiến trình giải trình và đánh giá ở cấp địa phương sẽ là một phần của báo cáo được trình bày trong các chuyến ad limina.

102. Đặc biệt, trong các hình thức phù hợp với các bối cảnh khác nhau, dường như cần phải đảm bảo ít nhất:

a) sự hoạt động hiệu quả của các hội đồng kinh tế;

b) sự tham gia hiệu quả của Dân Chúa, đặc biệt là những thành viên tinh thông chuyên môn nhất, vào việc hoạch định mục vụ và tài chính;

c) việc chuẩn bị và công bố (tùy theo bối cảnh địa phương và với khả năng tiếp cận hiệu quả) một báo cáo tài chính hàng năm, được kiểm toán viên bên ngoài chứng nhận trong chừng mực có thể, giúp minh bạch hóa việc quản lý tài sản, các nguồn tài chính của Giáo hội và các tổ chức của Giáo hội;

d) việc chuẩn bị và công bố một báo cáo thường niên về việc thực hiện sứ vụ của Giáo hội địa phương, bao gồm cả các sáng kiến trong lĩnh vực bảo vệ trẻ vị thành niên và những người dễ bị tổn thương, và về tiến độ thúc đẩy giáo dân tiếp cận các vị trí có thẩm quyền và sự tham gia của họ vào các tiến trình ra quyết định, nêu rõ tỷ lệ nam và nữ;

e) quy trình đánh giá định kỳ việc thực thi các thừa tác vụ và các nhiệm vụ trong Giáo hội.

Chúng ta phải nhận ra rằng các việc trên không phải là nỗ lực quan liêu có mục đích tự thân, mà là một nỗ lực truyền thông để chứng tỏ các việc ấy là một phương tiện giáo dục mạnh mẽ nhằm thay đổi văn hóa, bên cạnh việc cho phép có tầm nhìn tốt hơn về nhiều sáng kiến có giá trị của Giáo hội và các tổ chức của Giáo hội, vốn thường bị che khuất.

 

Tính hiệp hành và các tổ chức tham gia

103. Sự tham gia vào các tiến trình đưa ra quyết định của những người đã được rửa tội, cũng như hoạt động giải trình và đánh giá, diễn ra thông qua các cơ cấu thể chế, trước hết là qua tất cả các tổ chức tham gia ở cấp Giáo hội địa phương theo như Giáo luật đã quy định. Trong Giáo hội Latinh, đó là: Công nghị giáo phận (x. CIC, điều 466), Hội đồng Linh mục (x. CIC, điều 500, § 2), Hội đồng Mục vụ Giáo phận (x. CIC, điều 514, § 1), Hội đồng Mục vụ Giáo xứ (x. CIC, điều 536), Hội đồng Kinh tế Giáo phận và Hội đồng Kinh tế Giáo xứ (x. CIC, điều 493 và 537). Trong các Giáo hội Công giáo Đông phương, các tổ chức này là: Công nghị Giáo phận Đông phương (x. CCEO, điều 235 tt.), Công nghị Giáo phận Đông phương về các Vấn đề Kinh tế (x. CCEO, điều 262 tt.), Hội đồng Linh mục (x. CCEO điều 264), Hội đồng Mục vụ Giáo phận Đông phương (x. CCEO điều 272 tt.), Hội đồng Giáo xứ (x. CCEO điều 295). Các thành viên của các tổ chức này tham gia dựa trên nhiệm vụ của họ trong Giáo hội và trên các trách nhiệm và khả năng riêng của họ (như đặc sủng, thừa tác vụ, kinh nghiệm, thẩm quyền, v.v.). Mỗi tổ chức này đều tham gia vào việc phân định cần thiết cho việc loan báo Tin mừng đã được hội nhập văn hóa, cho sứ vụ của cộng đoàn trong môi trường của nó và cho chứng tá của những người đã được rửa tội. Mỗi tổ chức ấy cũng góp phần vào tiến trình ra quyết định theo các phương cách đã được thiết lập và nó cũng tạo nên một không gian cho việc giải trình và đánh giá, mà chính nó cũng phải giải trình và đánh giá hoạt động của mình. Các tổ chức tham gia là một trong những lĩnh vực hứa hẹn nhất để hành động nhằm thực hiện nhanh chóng các định hướng của Thượng Hội đồng, dẫn đến những thay đổi có thể nhận thấy được trong thời gian sắp tới.

104. Một Giáo hội hiệp hành được đặt nền tảng không phải trên danh nghĩa của các tổ chức tham gia này, mà là trên thực tại, hiệu năng và sự sinh động của chúng, trên cách chúng vận hành phù hợp với các quy định giáo luật hoặc các thông lệ chính đáng, cũng như trên sự tôn trọng các quy chế và các điều lệ ràng buộc chúng. Đây là lý do tại sao buộc phải có các tổ chức này, như đã được yêu cầu ở mọi giai đoạn của tiến trình Thượng Hội đồng, và là lý do tại sao chúng phải có khả năng thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình, không phải theo cách thức thuần túy hình thức, mà theo cách thức phù hợp với các bối cảnh địa phương khác nhau.

105. Theo chiều hướng đó, cần can thiệp vào cấu trúc và sự vận hành của các tổ chức tham gia. Trước tiên, cần bắt đầu bằng việc áp dụng phương pháp làm việc hiệp hành. Phương pháp đối thoại trong Thánh Thần, với những điều chỉnh thích hợp, có thể tạo nên một điểm tham chiếu. Kế đến, cần đặc biệt lưu tâm đến cách chỉ định các thành viên của các tổ chức này. Khi không dự tính bầu chọn, thì cần tiến hành một cuộc thỉnh ý hiệp hành để bày tỏ rõ ràng nhất thực tế của cộng đoàn hoặc của Giáo hội địa phương, và vị có thẩm quyền tiến hành bổ nhiệm trên cơ sở kết quả của cuộc thỉnh ý, tôn trọng mối liên hệ giữa thỉnh ý và cân nhắc được mô tả ở trên. Và cũng cần quy định rằng các thành viên của hội đồng mục vụ giáo phận và giáo xứ có quyền đề xuất các nội dung trong chương trình nghị sự theo cách tương tự như được trù liệu trong hội đồng linh mục.

106. Cần quan tâm đồng đều đến thành phần của các tổ chức tham gia, từ đó tạo thuận lợi cho phụ nữ, giới trẻ và những người sống trong điều kiện nghèo đói hoặc bên lề xã hội được tham gia nhiều hơn. Mặt khác, điều căn bản là những tổ chức này phải bao gồm những người đã được rửa tội, chính họ là những người dấn thân làm chứng cho đức tin trong đời thực hằng ngày và trong sự năng động xã hội, chính họ là những người thể hiện rõ sự dấn thân bằng một đời sống tông đồ và truyền giáo, chứ không chỉ là những người đảm trách việc tổ chức cuộc sống và phục vụ nội bộ cộng đoàn. Bằng cách này, sự phân định của Giáo hội sẽ cởi mở hơn, sẽ có được khả năng phân tích thực tại và sự đa dạng các viễn tượng. Tùy theo nhu cầu trong mỗi bối cảnh khác nhau, có thể là điều thích hợp khi dự kiến có sự tham gia của các vị đại diện thuộc các Giáo hội và Cộng đoàn Kitô giáo khác tương tự như những gì diễn ra trong Đại Hội Thượng Hội đồng, hoặc của các vị đại diện thuộc các tôn giáo khác trong vùng. Các Giáo hội địa phương và các nhóm của các Giáo hội này có thể xác định các tiêu chí phù hợp hơn trong việc thành lập các tổ chức tham gia này, tùy theo từng bối cảnh cụ thể.

107. Đại hội Thượng Hội đồng này đã đặc biệt chú ý đến các trải nghiệm cải tổ tích cực và các thực hành tốt đẹp đang có, chẳng hạn như việc thành lập mạng lưới các hội đồng mục vụ ở cấp độ các cộng đoàn cơ bản, các giáo xứ và các khu vực, cho đến Hội đồng mục vụ giáo phận. Việc thường xuyên tổ chức các đại hội Giáo hội, như một mô hình thỉnh ý và lắng nghe, cũng được khuyến khích ở mọi cấp độ trong Giáo hội. Các đại hội này cố gắng không giới hạn việc thỉnh ý trong nội bộ Giáo hội Công giáo, nhưng mở ra để lắng nghe những đóng góp của các Giáo hội và Cộng đồng Kitô giáo khác, đồng thời vẫn quan tâm đến các tôn giáo khác trong vùng.

108. Đại hội Thượng Hội đồng này đề xuất rằng Công nghị giáo phận và Đại hội giáo phận Đông phương nên được đánh giá cao hơn nữa, được xem là những tổ chức thỉnh ý thường xuyên giữa Giám mục và phần Dân Chúa được giao phó cho ngài, là nơi lắng nghe, cầu nguyện và phân định, đặc biệt khi liên quan đến các lựa chọn quan trọng trong đời sống và sứ vụ của một Giáo hội địa phương. Công nghị giáo phận cũng có thể là một diễn đàn để giải trình và đánh giá: ở đó, giám mục trình bày một báo cáo về hoạt động mục vụ trong các lĩnh vực khác nhau, về việc thực hiện các kế hoạch mục vụ, về việc tiếp nhận các tiến trình hiệp hành của toàn thể Giáo hội, về các sáng kiến liên quan đến vấn đề bảo vệ trẻ vị thành niên và những người dễ bị tổn thương, cũng như về quản lý tài chính và tài sản vật chất. Vì vậy, cần phải củng cố các quy định giáo luật về vấn đề này để phản ánh tốt hơn đặc tính hiệp hành truyền giáo của mỗi Giáo hội địa phương, quy định rằng các Công nghị giáo phận và các Công nghị giáo phận Đông phương hội họp thường xuyên, chứ không thất thường và thưa thớt.

 

Phần IV – MỘT MẺ LƯỚI ĐẦY

Hoán cải về các mối liên kết

“Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, … Ông Simôn Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách” (Ga 21,8.11).

109. Những tấm lưới được quăng ra theo Lời Đấng Phục Sinh đã mang lại một mẻ cá dồi dào. Tất cả các môn đệ cùng nhau kéo lưới, Phêrô đóng vai trò đặc biệt. Trong Phúc âm, đánh cá là hành động được làm cùng với nhau: mỗi người có một nhiệm vụ riêng, khác nhau nhưng phối hợp với nhau. Giáo hội hiệp hành là như thế – được làm nên bởi các mối dây hiệp thông giúp hiệp nhất chúng ta, và có chỗ cho sự đa dạng của mọi dân tộc và mọi nền văn hóa. Vào thời điểm mà đang có sự thay đổi về kinh nghiệm tại những nơi Giáo hội được bén rễ và Giáo hội đang hướng đến, chúng ta cần vun đắp những hình thức mới của việc trao đổi các hồng ân và việc đan kết các mối dây hiệp nhất chúng ta. Về điều này, chúng ta được nâng đỡ bởi thừa tác vụ của các giám mục trong sự hiệp thông của các ngài với nhau và với Giám mục Rôma.

 

Được bén rễ vững chắc nhưng vẫn là những người hành hương

110. Việc loan báo Tin mừng khơi dậy đức tin trong tâm hồn con người và dẫn đến việc thành lập Giáo hội tại một nơi chốn cụ thể. Giáo hội không thể được hiểu nếu Giáo hội không được bén rễ trong một lãnh thổ cụ thể, trong một không gian và thời gian nơi hình thành kinh nghiệm chung về cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ. Chiều kích địa phương này của Giáo hội bảo tồn sự đa dạng phong phú của những cách diễn tả đức tin được bén rễ trong các bối cảnh văn hóa và lịch sử đặc thù. Sự hiệp thông của các Giáo hội địa phương là biểu hiện sự hiệp thông của các tín hữu trong Giáo hội duy nhất. Vì thế, sự hoán cải theo tinh thần hiệp hành mời gọi mỗi người mở rộng không gian tâm hồn mình - tâm hồn là ‘nơi’ đầu tiên mà trong đó tất cả các mối tương quan của chúng ta cộng hưởng - bắt nguồn từ mối tương quan cá vị của mỗi người với Chúa Giêsu Kitô và Giáo hội của Người. Đây là khởi nguồn và là điều kiện của mọi cuộc cải tổ có tính hiệp hành về những mối dây hiệp thông của chúng ta và về những không gian nơi chúng ta là Giáo hội. Hoạt động mục vụ không thể bị giới hạn trong việc chăm sóc các mối tương quan giữa những người vốn đã cảm thấy hòa hợp, mà đúng hơn phải thúc đẩy sự gặp gỡ giữa tất cả mọi người.

111. Kinh nghiệm về sự bén rễ hiện phải đối mặt với những thay đổi sâu sắc về văn hóa-xã hội, những thay đổi vốn đang làm biến đổi nhận thức về nơi chốn. Ý niệm về “nơi chốn” không còn có thể được hiểu thuần túy về mặt không gian địa lý nữa, nhưng trong thời đại chúng ta, nó còn gợi lên sự thuộc về một mạng lưới tương quan, cũng như sự thuộc về một nền văn hóa mà các gốc rễ vùng miền của nó có tính năng động và linh hoạt hơn bao giờ hết. Sự đô thị hóa là một trong những nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự thay đổi này. Ngày nay, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, phần lớn dân số toàn cầu sống nơi các thành thị. Các thành phố lớn thường gồm những khối dân cư không lịch sử và không bản sắc, trong đó người ta sống như những ốc đảo. Các mối dây liên kết vùng miền truyền thống thay đổi ý nghĩa, làm mờ ranh giới của nhiều giáo phận và giáo xứ. Giáo hội được kêu gọi sống trong những bối cảnh này, xây dựng lại đời sống cộng đoàn, định dạng cho các thực tại không tên, và đan kết các mối tương quan huynh đệ. Nhằm mục đích đó, ngoài việc trân trọng các cấu trúc vẫn còn thích đáng, cần có ‘tinh thần sáng tạo truyền giáo’ để khám phá những hình thức chăm sóc mục vụ mới và xác định những tiến trình chăm sóc cụ thể. Dẫu sao, một điều không kém phần đúng đắn là không được bỏ qua các thực tại nông thôn mà một số trong đó là những vùng ngoại vi hiện sinh thực sự, cần phải có sự quan tâm mục vụ đặc biệt các thực tại này, giống như những nơi bị quên lãng và loại trừ.

112. Vì nhiều lý do, thời đại chúng ta có nét đặc trưng là sự gia tăng hoạt động di chuyển của con người. Người tị nạn và di dân thường hình thành các cộng đồng năng động, cả trong thực hành tôn giáo, khiến nơi họ định cư trở thành đa văn hóa. Một số người vẫn duy trì mối liên hệ chặt chẽ với quê hương bản quán của họ, đặc biệt nhờ vào các phương tiện truyền thông kỹ thuật số, và cảm thấy khó khăn trong việc đan kết các mối tương quan nơi xứ sở mới; những người khác sống mà không có gốc rễ. Cả cư dân ở các nước sở tại cũng đặt vấn đề về việc chào đón những người mới đến. Mọi người đều trải nghiệm tác động do sự gặp gỡ giữa các nguồn địa lý, văn hóa và ngôn ngữ rất đa dạng, và được kêu gọi xây dựng những cộng đồng liên văn hóa. Không nên bỏ qua tác động của hiện tượng di dân đối với đời sống Giáo hội. Theo nghĩa này, tiêu biểu là tình hình của một số Giáo hội Công giáo Đông phương với số lượng tín đồ ly tán ở nước ngoài ngày càng tăng. Cần phải có những cách tiếp cận mới để họ duy trì mối liên kết với Giáo hội gốc của họ, đồng thời tạo lập những mối liên kết mới, tôn trọng các nguồn gốc tâm linh và văn hóa khác biệt.

113. Sự lan rộng của văn hóa kỹ thuật số, đặc biệt và rõ ràng là nơi giới trẻ, cũng làm thay đổi sâu sắc nhận thức về không gian và thời gian, ảnh hưởng đến: các hoạt động hàng ngày, sự giao tiếp, và các mối tương quan cá nhân, kể cả đức tin. Các khả năng do internet cung cấp định hình lại các mối tương quan, sự ràng buộc và các biên giới. Mặc dù ngày nay có sự kết nối nhiều hơn bao giờ hết, nhưng người ta vẫn thường cảm thấy bị cô đơn và bị gạt ra ngoài lề xã hội. Hơn nữa, những người nắm giữ lợi ích kinh tế và chính trị có thể lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội để thao túng con người, truyền bá các ý thức hệ và tạo ra sự phân cực gay gắt. Chúng ta chưa chuẩn bị tốt cho thực tế này và cần phải dành các nguồn lực để môi trường kỹ thuật số trở thành nơi thi hành sứ vụ và việc loan báo mang tính ngôn sứ. Các Giáo hội địa phương phải khuyến khích, hỗ trợ và đồng hành với những người dấn thân cho sứ vụ trong môi trường kỹ thuật số. Các cộng đồng và các nhóm Kitô hữu trên nền tảng kỹ thuật số, đặc biệt là giới trẻ, cũng được kêu gọi suy nghĩ về: cách để họ tạo ra các mối liên kết thuộc về, cách thúc đẩy sự gặp gỡ và đối thoại, cách cung cấp sự đào tạo giữa những người đồng trang lứa, và cách phát triển phương thức trở nên Giáo hội mang tính hiệp hành. Internet, được tạo nên từ các kết nối, mang lại những cơ hội mới để sống chiều kích hiệp hành của Giáo hội.

114. Những diễn biến xã hội và văn hóa này đòi hỏi Giáo hội phải suy nghĩ lại về ý nghĩa của chiều kích “địa phương” cũng như phải đặt vấn đề về các hình thức tổ chức của mình để phục vụ  tốt hơn cho sứ vụ. Trong khi thừa nhận giá trị của việc bám rễ vào bối cảnh địa lý và văn hóa cụ thể, điều cần thiết là phải hiểu “nơi chốn” là thực tại lịch sử làm nên kinh nghiệm của con người. Chính tại đó, nơi mạng lưới các mối tương quan được thiết lập, Giáo hội được mời gọi thể hiện tính bí tích của mình (x. LG 1) và thực hiện sứ vụ của mình.

115. Mối liên hệ giữa nơi chốn và không gian cũng gợi ý cho việc suy gẫm về Giáo hội như “ngôi nhà”. Khi hình ảnh ngôi nhà không còn bị coi như một không gian khép kín, không thể tiếp cận, và phải bảo vệ bằng mọi giá, thì nó sẽ gợi lên khả năng chào đón, hiếu khách và bao gồm. Bản thân công trình tạo dựng là ngôi nhà chung, nơi đó các thành viên của gia đình nhân loại duy nhất sống với tất cả các loài thụ tạo khác. Trách nhiệm của chúng ta, được Chúa Thánh Thần hỗ trợ, là bảo đảm rằng Giáo hội được cảm nhận như một ngôi nhà tiếp đón, một bí tích của sự gặp gỡ và ơn cứu độ, một trường học hiệp thông cho tất cả con cái của Thiên Chúa. Giáo hội cũng là Dân Thiên Chúa bước đi với Chúa Kitô, trong đó mỗi người được kêu gọi trở thành người hành hương của hy vọng. Thực hành hành hương truyền thống là một dấu chỉ của điều này. Lòng đạo đức bình dân là một trong những nơi chốn của một Giáo hội hiệp hành truyền giáo.

116. Chính Giáo hội địa phương, được hiểu như một giáo phận Công giáo hoặc như một giáo khu Công giáo Đông phương, là bối cảnh cơ bản trong đó sự hiệp thông trong Chúa Kitô của những người đã nhận Phép rửa được thể hiện trọn vẹn nhất. Tại đây, cộng đoàn này được tập hợp trong cử hành Thánh Thể do giám mục chủ tọa. Mỗi Giáo hội địa phương có cơ cấu tổ chức nội bộ riêng, đồng thời cũng duy trì các mối tương quan với các Giáo hội địa phương khác.

117. Một trong những cơ cấu chính của Giáo hội địa phương được lịch sử trao lại cho chúng ta là giáo xứ. Cộng đoàn giáo xứ quy tụ trong cử hành Thánh Thể là nơi ưu tiên của các mối tương quan, sự chào đón, sự phân định và sứ vụ. Những thay đổi trong quan niệm và trong cách sống mối tương quan của chúng ta với địa phương đòi hỏi chúng ta phải xem xét lại cách định hình các giáo xứ. Điểm đặc trưng của giáo xứ, đó là một cộng đoàn không tự chọn. Mọi người quy tụ về đó từ nhiều thế hệ, nghề nghiệp, xuất xứ vùng miền, giai cấp xã hội và địa vị khác nhau. Để đáp ứng các nhu cầu mới của sứ vụ, cộng đoàn giáo xứ được mời gọi mở ra các hình thức hoạt động mục vụ mới, có xét đến tính dịch chuyển dân cư và “lãnh thổ hiện sinh” nơi họ sống cuộc đời mình. Bằng cách đặc biệt thúc đẩy việc khai tâm Kitô giáo, cũng như việc cung cấp sự đồng hành và đào tạo, cộng đoàn giáo xứ sẽ có thể hỗ trợ mọi người ở các giai đoạn khác nhau trong cuộc sống để họ hoàn thành sứ vụ của mình trong thế giới. Theo cách này, sẽ thấy rõ hơn rằng giáo xứ không quy hướng về chính mình mà hướng đến sứ vụ. Vì thế, giáo xứ được kêu gọi nâng đỡ sự dấn thân của rất nhiều người đang sống và làm chứng cho đức tin của mình bằng nhiều cách thức khác nhau thông qua nghề nghiệp của họ, trong các hoạt động xã hội, văn hóa và chính trị. Ở nhiều vùng trên thế giới, các Cộng đoàn Kitô hữu nhỏ hay các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản là địa bàn nơi các mối tương quan hỗ tương gần gũi đầy ý nghĩa có thể phát triển mạnh mẽ, đem lại cơ hội trải nghiệm tính hiệp hành cách cụ thể.

118. Chúng ta nhận ra rằng các hội dòng đời sống thánh hiến, các tu đoàn đời sống tông đồ, cũng như các hiệp hội, các phong trào và các cộng đoàn mới, vừa có khả năng bén rễ tại địa phương và vừa có khả năng kết nối các địa điểm và môi trường khác nhau, thường ở cấp độ quốc gia hoặc quốc tế. Hoạt động của họ, cùng với hoạt động của nhiều cá nhân và các nhóm không chính thức, thường mang Tin mừng đến những nơi rất đa dạng như: bệnh viện, nhà tù, nhà dưỡng lão, trung tâm tiếp nhận người di cư, trẻ vị thành niên, những người bị gạt ra bên lề và các nạn nhân của bạo lực; cho đến các trung tâm giáo dục và đào tạo, các trường phổ thông và đại học nơi mà những người trẻ và những gia đình gặp gỡ; các trung tâm văn hóa, chính trị và phát triển nhân bản toàn diện, nơi mà các hình thức mới của việc sống với nhau được hình dung và xây dựng. Với lòng biết ơn, chúng ta cũng hướng nhìn đến các đan viện, là những nơi để quy tụ và phân định, và là dấu chỉ về một thực tại “ở trên” liên quan đến toàn thể Giáo hội và định hướng con đường của Giáo hội. Trách nhiệm đặc biệt của giám mục hoặc giám mục Công giáo Đông phương (Eparch) là làm sống động các tổ chức đa dạng này và nuôi dưỡng các mối dây hiệp nhất. Các hội dòng và hiệp hội được kêu gọi hành động hiệp lực với Giáo hội địa phương, tham gia vào sự năng động của tính hiệp hành.

119. Việc đề cao hơn nữa các vị trí “trung gian” giữa Giáo hội địa phương và Giáo hội hoàn vũ – chẳng hạn như các giáo tỉnh, cũng như các nhóm Giáo hội ở cấp quốc gia và châu lục – có thể thúc đẩy sự hiện diện có ý nghĩa hơn của Giáo hội trong thế giới ngày nay. Sự gia tăng tính dịch chuyển và tính kết nối khiến cho ranh giới giữa các Giáo hội trở nên linh hoạt hơn, đòi buộc chúng ta phải suy nghĩ và hoạt động khắp trên một “khối văn hóa-xã hội rộng lớn”, trong đó, đời sống Kitô hữu “được thích nghi với năng lực và đặc tính của từng nền văn hóa” trong khi phải loại trừ mọi hình thức “chủ nghĩa cá thể sai lạc” (AG 22).

 

Trao đổi các hồng ân

120. Việc cùng nhau tiến bước như những môn đệ của Chúa Giêsu tại những nơi khác nhau, với các đặc sủng và các thừa tác vụ đa dạng của chúng ta, đồng thời tham gia vào việc trao đổi các hồng ân giữa các Giáo hội, là dấu chỉ hữu hiệu về tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa trong Đức Kitô, được tuôn đổ bởi Thánh Thần – Đấng đồng hành, nâng đỡ và hướng dẫn hành trình của nhân loại tiến về Nước Thiên Chúa. Việc trao đổi các hồng ân này liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống Giáo hội. Giáo hội hoàn thành sứ vụ của mình bằng cách “cổ vũ và đảm nhận để tinh luyện, củng cố và thăng hoa tất cả những gì là thiện hảo nơi các nguồn năng lực, những di sản phong phú và nơi nếp sống của các dân tộc” (LG 13). Giáo hội thực hiện điều này vì chính Giáo hội vừa được thiết lập trong Đức Kitô như Dân Thiên Chúa quy tụ từ mọi dân tộc trên trái đất, đồng thời vừa được cơ cấu một cách năng động trong sự hiệp thông giữa các Giáo hội địa phương, các nhóm Giáo hội, và các Giáo hội tự trị (sui iuris) trong một Giáo hội Công giáo duy nhất. Huấn dụ của Thánh Tông đồ Phêrô: “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa” (1 Pr 4,10) chắc chắn có thể được áp dụng cho từng Giáo hội địa phương. Mối tương quan giữa Giáo hội Công giáo Latinh và các Giáo hội Công giáo Đông phương là một ví dụ điển hình và truyền cảm hứng về sự trao đổi các hồng ân này. Mối tương quan này cần được làm mới và suy xét cẩn trọng hơn trong bối cảnh các hoàn cảnh lịch sử đã thay đổi và trở nên cấp bách. Sự trao đổi các hồng ân và nỗ lực tìm kiếm lợi ích chung trong các khu vực địa lý rộng lớn mang tính xuyên quốc gia và liên văn hóa, chẳng hạn như vùng Amazon, lưu vực sông Congo và khu vực Địa Trung Hải, đang nổi lên như một ví dụ của sự đổi mới và hy vọng. Sự trao đổi này bao gồm cả việc dấn thân cho các vấn đề xã hội có ý nghĩa toàn cầu.

121. Giáo hội, cả ở cấp độ địa phương và trong sự hiệp nhất Công giáo của mình, mong muốn trở thành một mạng lưới các mối tương quan, qua đó loan báo trong tinh thần ngôn sứ và thúc đẩy một nền văn hóa gặp gỡ, công bằng xã hội, sự đón nhận những người bị gạt ra bên lề, sự hiệp thông giữa các dân tộc và việc chăm sóc trái đất – ngôi nhà chung của chúng ta. Việc thực hiện cụ thể những điều này đòi hỏi mỗi Giáo hội phải chia sẻ các nguồn lực của mình trong tinh thần liên đới, không mang tính gia trưởng hay tính phục tùng, nhưng tôn trọng sự đa dạng và thúc đẩy tính hỗ tương lành mạnh. Điều này bao gồm, khi cần thiết, một sự dấn thân cho việc chữa lành những vết thương của ký ức và cùng nhau bước đi trên con đường hòa giải. Việc trao đổi các hồng ân và chia sẻ nguồn lực giữa các Giáo hội địa phương thuộc các khu vực khác nhau giúp củng cố sự hiệp nhất của Giáo hội, tạo ra các mối dây liên kết giữa các cộng đoàn Kitô hữu liên hệ. Cần chú trọng đến các điều kiện cần thiết để đảm bảo rằng các linh mục được sai đến giúp đỡ những Giáo hội thiếu linh mục không chỉ đơn thuần là một giải pháp mang tính chức năng, mà còn là một nguồn lực cho sự phát triển của cả Giáo hội sai đi lẫn Giáo hội đón nhận. Tương tự, cũng cần đảm bảo rằng sự hỗ trợ kinh tế không bị suy thoái thành một hình thức cung cấp phúc lợi đơn thuần, nhưng là việc thúc đẩy tinh thần liên đới đích thực theo Tin mừng và được quản lý một cách minh bạch và đáng tin cậy.

122. Việc trao đổi các hồng ân có ý nghĩa quan trọng trong hành trình hướng tới sự hiệp nhất trọn vẹn và hữu hình giữa tất cả các Giáo hội và các cộng đoàn Kitô giáo. Hơn nữa, điều này còn là dấu chỉ hữu hiệu của sự hiệp nhất trong đức tin và tình yêu của Đức Kitô, qua đó nâng cao cả uy tín và tác động của sứ vụ Kitô giáo (x. Ga 17,21). Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã áp dụng cách diễn đạt sau đây cho đối thoại đại kết: “Đối thoại không đơn thuần chỉ là một cuộc trao đổi tư tưởng. Theo một cách nào đó, đối thoại luôn là một ‘sự trao đổi các hồng ân’” (UUS 28). Chính nhờ sự dấn thân để nhập thể một Tin mừng duy nhất vào trong sự đa dạng của các bối cảnh văn hóa, các hoàn cảnh lịch sử và những thách thức xã hội mà các truyền thống Kitô giáo khác nhau – trong sự lắng nghe Lời Chúa và tiếng nói của Chúa Thánh Thần – đã sản sinh hoa trái phong phú về sự thánh thiện, bác ái, linh đạo, thần học, cũng như trong sự liên đới xã hội và văn hóa. Đã đến lúc phải trân quý những kho tàng quý báu này với lòng quảng đại, chân thành, không thành kiến, với lòng tạ ơn Thiên Chúa và với thái độ cởi mở, trao tặng chúng cho nhau mà không xem chúng là sở hữu độc quyền của mình. Gương mẫu của các vị thánh và những chứng nhân đức tin từ các Giáo hội và cộng đồng Kitô giáo khác cũng là một hồng ân mà chúng ta có thể đón nhận, kể cả bằng cách đưa lễ kính nhớ của họ - đặc biệt là các vị tử đạo - vào lịch phụng vụ của chúng ta.

123. Đức Giáo hoàng Phanxicô và Đại Imam Al-Azhar, Ahmed Al-Tayyeb, đã tuyên bố việc chấp nhận “văn hóa đối thoại như con đường; hợp tác với nhau là quy tắc ứng xử; hiểu biết nhau là phương pháp và tiêu chuẩn” trong Văn kiện về tình huynh đệ nhân loại vì hòa bình thế giới và chung sống, được ký kết tại Abu Dhabi vào ngày 04 tháng 02 năm 2019. Đây không phải là một khát vọng viển vông hay một điều tùy chọn trên hành trình của Dân Thiên Chúa trong thế giới hôm nay. Một Giáo hội hiệp hành là một Giáo hội dấn thân bước đi trên con đường này cùng với các tín đồ của các tôn giáo khác và những người có niềm tin khác ở bất cứ nơi đâu mà Giáo hội hiện diện. Giáo hội tự nguyện chia sẻ niềm vui Tin mừng và đón nhận với lòng biết ơn những hồng ân từ các truyền thống tôn giáo khác. Qua sự cộng tác này, chúng ta hướng đến việc cùng nhau, như những người anh chị em, trong tình thần hoạt động với nhau và tương trợ lẫn nhau (x. GS 40), để xây dựng công bằng, tình liên đới, hòa bình và việc đối thoại liên tôn. Tại một số vùng, mọi người gặp gỡ nhau trong các cộng đoàn láng giềng nhỏ bất kể sự khác biệt về tôn giáo. Những cộng đồng này tạo nên một môi trường thuận lợi cho cuộc đối thoại trên ba bình diện: đối thoại trong đời sống, đối thoại trong hành động và đối thoại trong cầu nguyện.

 

Các mối dây hiệp nhất: các Hội đồng Giám mục và các Đại hội Giáo hội

124. Nguyên tắc hướng dẫn mối tương quan giữa các Giáo hội là viễn cảnh hiệp thông bằng việc trao đổi các hồng ân. Nguyên tắc này kết hợp sự quan tâm đến những mối dây liên kết tạo nên sự hiệp nhất của toàn thể Giáo hội với sự nhìn nhận và trân trọng bối cảnh đặc thù của từng Giáo hội địa phương, cùng với lịch sử và truyền thống của nó. Một phong cách hiệp hành cho phép các Giáo hội địa phương tiến bước với những nhịp độ khác nhau. Sự khác biệt về nhịp độ này có thể được xem như một biểu hiện của sự đa dạng chính đáng và là cơ hội để trao đổi hồng ân và làm phong phú lẫn nhau. Đích điểm chung này đòi hỏi việc phân định, nhận diện và thúc đẩy các thực hành cụ thể nhằm giúp chúng ta trở thành một Giáo hội hiệp hành đang thi hành sứ vụ.

125. Các Hội đồng Giám mục thể hiện và thực thi tính hiệp đoàn của giám mục nhằm mục đích thúc đẩy sự hiệp thông giữa các Giáo hội và đáp ứng cách hiệu quả hơn những nhu cầu của đời sống mục vụ. Các Hội đồng Giám mục là một tổ chức nền tảng để kiến tạo các mối dây liên kết, chia sẻ những kinh nghiệm và các thực hành tốt giữa các Giáo hội, cũng như để thích ứng đời sống Kitô hữu và diễn tả đức tin cho những nền văn hóa khác nhau. Với sự tham gia của toàn thể Dân Thiên Chúa, các Hội đồng Giám mục cũng giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển tính hiệp hành. Dựa trên kết quả của tiến trình Thượng Hội đồng, chúng tôi đề xuất những điểm sau:

a) Tổng hợp những thành quả của việc thảo luận về quy chế thần học và pháp lý của các Hội đồng Giám mục.

b) Xác định rõ lĩnh vực thẩm quyền về giáo lý và kỷ luật của các Hội đồng Giám mục. Việc thực thi thẩm quyền có tính hiệp đoàn này có thể giúp phát triển sự giảng dạy chính thống về một đức tin duy nhất theo đường lối thích hợp và được hội nhập văn hóa trong những bối cảnh khác nhau, thông qua việc xác định các hình thức diễn tả phù hợp về phụng vụ, giáo lý, kỷ luật, thần học mục vụ và linh đạo (x. AG 22), trong khi không làm suy giảm thẩm quyền của giám mục đối với Giáo hội được trao phó cho ngài, cũng như không gây nguy hại đến sự hiệp nhất và tính công giáo của Giáo hội.

c) Thực hiện một tiến trình đánh giá về kinh nghiệm thực tế trong hoạt động của các Hội đồng Giám mục, về mối tương quan giữa các giám mục với nhau và với Tòa thánh, nhằm xác định những cải tổ cụ thể cần thiết. Các chuyến viếng thăm ad limina có thể là những dịp thích hợp cho việc này.

d) Đảm bảo rằng mọi giáo phận đều thuộc về một giáo tỉnh và một Hội đồng Giám mục. (x. CD 40);

e) Xác định rõ mối liên kết Giáo hội được tạo ra từ những quyết định của Hội đồng Giám mục liên quan đến các giáo phận có giám mục tham gia vào những quyết định này.

126. Trong tiến trình Thượng Hội đồng, bảy đại hội Giáo hội cấp châu lục diễn ra vào đầu năm 2023 vừa là một đổi mới quan trọng vừa là một di sản cần được trân quý. Đây là phương thức hiệu quả để thực hiện Giáo huấn Công đồng về giá trị của “mỗi vùng rộng lớn cùng trong một khối văn hóa-xã hội” nhằm hướng tới “một đời sống Kitô hữu sẽ được thích nghi với năng lực và đặc tính của từng nền văn hóa” (AG 22). Để các đại hội này có thể đóng góp cách trọn vẹn hơn vào sự phát triển của một Giáo hội hiệp hành, thì cần phải làm sáng tỏ quy chế thần học và giáo luật của các đại hội Giáo hội, cũng như của các Liên Hội đồng Giám mục cấp châu lục. Cách riêng, các chủ tịch của những nhóm Giáo hội ấy có trách nhiệm khuyến khích và hỗ trợ sự phát triển liên tục của tiến trình này.

127. Trong các đại hội Giáo hội (cấp khu vực, quốc gia, châu lục), các thành viên thể hiện và đại diện cho sự đa dạng của Dân Thiên Chúa (bao gồm cả các giám mục) cùng tham gia vào tiến trình phân định, qua đó các Giám mục, với tính hiệp đoàn, có thể đưa ra những quyết định thuộc thẩm quyền của các ngài theo thừa tác vụ đã lãnh nhận. Kinh nghiệm này cho thấy cách thức cụ thể mà tính hiệp hành làm cho tất cả mọi người (Dân Thiên Chúa) và cho một số người có thừa tác vụ (thuộc Giám mục đoàn) tham gia vào trong tiến trình đưa ra quyết định liên quan đến sứ vụ của Giáo hội. Chúng tôi đề xuất rằng việc phân định, theo cách thức phù hợp với sự đa dạng của các bối cảnh, có thể bao gồm những không gian cho việc lắng nghe và đối thoại với các Kitô hữu khác, các đại diện của các tôn giáo khác, các tổ chức công quyền, tổ chức xã hội dân sự và toàn thể xã hội.

129. Trong những hoàn cảnh xã hội và chính trị đặc thù, một số Hội đồng Giám mục gặp khó khăn trong việc tham gia các đại hội cấp châu lục hoặc các tổ chức Giáo hội liên quốc gia. Toà Thánh có trách nhiệm hỗ trợ họ bằng cách thúc đẩy đối thoại và xây dựng lòng tin tưởng lẫn nhau với các nhà nước hay quốc gia, nhằm tạo điều kiện cho họ có thể gắn kết với các Hội đồng Giám mục khác, qua đó thực hiện việc trao đổi các hồng ân.

129. Để thực hiện một “sự tản quyền thích hợp” (EG 16) và một sự hội nhập văn hóa hữu hiệu của đức tin, thì không chỉ cần nhìn nhận vai trò của các Hội đồng Giám mục mà còn phải tái khám phá định chế của các công đồng địa phương, bao gồm cả công đồng giáo tỉnh và công đồng toàn quốc. Việc tổ chức định kỳ các Công đồng này từng là một nghĩa vụ trong phần lớn lịch sử Giáo hội và hiện vẫn được quy định trong giáo luật của Giáo hội Latinh (x. CIC các điều 439-446). Các công đồng này cần được triệu tập theo định kỳ. Thủ tục để Tòa thánh công nhận (recognitio) các kết luận của các công đồng địa phương cần được cải tổ để khuyến khích việc công bố kịp thời các kết quả, bằng cách xác định rõ thời hạn cụ thể hoặc, trong các trường hợp chỉ liên quan đến các vấn đề mục vụ hoặc kỷ luật (mà không trực tiếp đụng chạm đến các vấn đề đức tin, luân lý hoặc kỷ luật bí tích) thì áp dụng giả định pháp lý tương đương với sự chấp thuận mặc nhiên.

 

Việc phục vụ của Giám mục Rôma

130. Tiến trình Thượng Hội đồng cũng đã xem xét lại các phương thức mà Giám mục Rôma thực thi thừa tác vụ của mình. Tính hiệp hành cho phép các khía cạnh tập thể (“tất cả”), hiệp đoàn (“một số”), và cá nhân (“một”) của các Giáo hội địa phương và của toàn thể Giáo hội, liên kết và thống nhất chúng với nhau. Dưới ánh sáng này, thừa tác vụ Phêrô gắn liền với động lực hiệp hành, cũng như gắn liền với chiều kích cộng đoàn liên quan đến toàn thể Dân Thiên Chúa, và chiều kích hiệp đoàn của thừa tác vụ giám mục (x. ITC 64).

131. Do đó, chúng ta có thể hiểu tầm quan trọng của khẳng định từ Công đồng: “Các Giáo Hội địa phương vẫn hiện diện cách chính thức trong tình hiệp thông Giáo Hội, vẫn có thể nắm giữ những truyền thống của riêng mình trong khi vẫn bảo toàn quyền tối thượng của ngai tòa Phêrô đứng đầu toàn thể cộng đoàn đức ái, bảo toàn các dị biệt hợp pháp, đồng thời lưu tâm giữ gìn sao cho các dị biệt ấy không làm phương hại, trái lại còn phục vụ cho sự hiệp nhất” (LG 13). Giám mục Rôma là nền tảng sự hiệp nhất của Giáo hội (x. LG 23), là người bảo đảm cho tính hiệp hành: Ngài triệu tập Giáo hội tham gia vào Thượng Hội đồng, ngài chủ tọa và xác nhận kết quả của Thượng Hội đồng. Với tư cách là người kế vị Thánh Phêrô, ngài giữ vai trò độc nhất trong việc bảo vệ kho tàng đức tin và luân lý, bảo đảm rằng các tiến trình hiệp hành luôn hướng đến sự hiệp nhất và chứng tá. Cùng với Giám mục Rôma, Giám mục đoàn có vai trò không thể thay thế trong việc chăm sóc mục vụ cho toàn thể Giáo hội (x. LG 22-23) và thúc đẩy tính hiệp hành trong mọi Giáo hội địa phương.

132. Với tư cách là người gìn giữ sự hiệp nhất trong đa dạng, Giám mục Rôma bảo đảm rằng căn tính của các Giáo hội Công giáo Đông phương được gìn giữ và các truyền thống thần học, giáo luật, phụng vụ, thiêng liêng và mục vụ đã có từ nhiều thế kỷ của họ được tôn trọng. Những Giáo hội này được trang bị các cơ cấu hiệp hành có quyền biểu quyết riêng, bao gồm: Thượng Hội đồng Giám mục của Tòa Thượng phụ, Thượng Hội đồng của các Tổng Giám mục (x. CCEO các điều 102 tt., 152), Hội đồng Giáo tỉnh (x. CCEO điều 137), Hội đồng Giáo phẩm (x. CCEO các điều 155, §1, 164 tt.), và cuối cùng là các Đại hội Giáo phẩm của các Giáo hội tự trị (sui iuris) khác nhau (x. CCEO điều 322). Là những Giáo hội tự trị hiệp thông trọn vẹn với Giám mục Rôma, các Giáo hội này vẫn giữ vững căn tính Đông phương và quyền tự trị của mình. Trong khuôn khổ của tính hiệp hành, cần thiết phải cùng nhau nhìn lại lịch sử nhằm chữa lành những vết thương của quá khứ và đào sâu cách thức sống sự hiệp thông. Điều này bao hàm việc xem xét điều chỉnh các mối tương quan giữa các Giáo hội Công giáo Đông phương và Giáo triều Rôma. Tương quan giữa Giáo hội Latinh và các Giáo hội Công giáo Đông phương cần được xây dựng trên tinh thần trao đổi hồng ân, hợp tác và làm phong phú lẫn nhau.

133. Để thúc đẩy hơn nữa các mối tương quan này, Đại hội Thượng Hội đồng đề xuất thiết lập một Hội đồng gồm các Thượng phụ, các Tổng Giám mục Trưởng và các Tổng Giám mục Giáo tỉnh của các Giáo hội Công giáo Đông phương dưới sự chủ trì của Đức Giáo hoàng. Hội đồng này sẽ là một biểu hiện của tính hiệp hành và là một công cụ nhằm cổ võ sự hiệp thông. Đồng thời, đây cũng sẽ là phương tiện để chia sẻ di sản phụng vụ, thần học, giáo luật và linh đạo. Việc di cư của nhiều tín hữu Đông phương đến các khu vực thuộc Giáo hội Công giáo Latinh có nguy cơ làm suy giảm căn tính của họ. Do đó, cần phát triển các phương thế và quy tắc nhằm tăng cường tối đa sự hợp tác giữa Giáo hội Công giáo Latinh và các Giáo hội Công giáo Đông phương để giải quyết tình trạng này. Đại hội Thượng Hội đồng khuyến nghị thực hiện đối thoại chân thành và cộng tác huynh đệ giữa các Giám mục Latinh và Đông phương, nhằm bảo đảm việc chăm sóc mục vụ tốt hơn cho các tín hữu Đông phương không có linh mục thuộc nghi lễ của họ, cũng như bảo đảm – với quyền tự trị thích hợp – sự tham gia của các Giám mục Đông phương vào trong các Hội đồng Giám mục Công giáo Latinh. Cuối cùng, Đại hội Thượng Hội đồng đề xuất Đức Thánh Cha triệu tập một Thượng Hội đồng Đặc biệt nhằm cổ võ việc củng cố và tái phát triển các Giáo hội Công giáo Đông phương.

134. Có một suy tư Thượng Hội đồng về việc thực thi thừa tác vụ Phêrô phải được thực hiện từ viễn cảnh của “sự tản quyền thích hợp” (EG 16), điều mà Đức Giáo hoàng Phanxicô và nhiều Hội đồng Giám mục mong muốn. Theo Tông hiến Praedicate Evangelium, sự tản quyền này có nghĩa là “giao cho thẩm quyền của các giám mục việc giải quyết - trong việc thực thi ‘nhiệm vụ riêng của các ngài như những thầy dạy’ và mục tử - những vấn đề mà các ngài am hiểu và không ảnh hưởng đến sự hiệp nhất của Giáo hội về giáo lý, kỷ luật và sự hiệp thông, cũng như các ngài luôn hành động với tinh thần trách nhiệm chung là hoa trái và biểu hiện của mầu nhiệm hiệp thông (mysterium communionis) cụ thể, tức là Giáo hội” (PE II, 2). Để tiếp tục tiến triển theo hướng này, có thể bắt đầu một nghiên cứu thần học và giáo luật nhằm xác định những vấn đề nên được trình lên Đức Giáo hoàng (reservatio papalis) và những vấn đề có thể được giải quyết bởi các giám mục trong các giáo phận của các ngài hoặc trong các Hội đồng Giám mục và Liên Hội đồng Giám mục. Việc này nên được thực hiện phù hợp với Tự sắc Competentias quasdam decernere gần đây (ngày 15 tháng 2 năm 2022). Tự sắc này chỉ định “một số lĩnh vực thẩm quyền liên quan đến các quy định của các Bộ luật nhằm bảo vệ sự thống nhất kỷ luật trong Giáo hội hoàn vũ, và quyền hành pháp trong các Giáo hội địa phương và các tổ chức Giáo hội” dựa trên “động lực của sự hiệp thông Giáo hội” (Lời mở đầu). Ngay cả các quy định giáo luật cũng nên được soạn thảo theo phong cách hiệp hành bởi những người có trách nhiệm và thẩm quyền phù hợp, và chúng cũng nên được chín muồi như là hoa trái của sự phân định Giáo hội.

135. Tông hiến Praedicate Evangelium đã định hình việc phục vụ của Giáo triều Rôma theo một ý nghĩa hiệp hành và truyền giáo. Tông hiến nhấn mạnh rằng việc phục vụ ấy “không được đặt ở giữa Đức Giáo hoàng và các giám mục, nhưng phục vụ cả hai, theo các phương thức phù hợp với bản chất của mỗi bên” (PE I. 8). Thực hiện điều này cần phải thúc đẩy sự hợp tác lớn hơn giữa các thánh bộ và khuyến khích họ lắng nghe các Giáo hội địa phương. Trước khi ban hành các văn bản quy định quan trọng, các thánh bộ được khuyến nghị tham khảo ý kiến của các Hội đồng Giám mục, cũng như các cơ cấu tương ứng của các Giáo hội Công giáo Đông phương tự trị. Dựa theo cách trình bày về sự minh bạch và giải trình đã được nêu ở trên, có thể hình dung các hình thức đánh giá công việc của Giáo triều. Việc đánh giá này, từ viễn cảnh hiệp hành và truyền giáo, cũng có thể được mở rộng đến các Đại diện Giáo hoàng. Các chuyến viếng thăm ad limina là đỉnh cao của mối tương quan giữa các giám mục của các Giáo hội địa phương với Giám mục Rôma và các cộng sự thân cận của ngài trong Giáo triều Rôma. Nhiều giám mục mong muốn cách thức thực hiện những chuyến viếng thăm này được xem xét lại để chúng ngày càng trở thành cơ hội cho sự trao đổi cởi mở và lắng nghe lẫn nhau. Xét đến sự đa dạng về văn hóa và bối cảnh, điều quan trọng và cần thiết đối với lợi ích của Giáo hội là các thành viên của Hồng y đoàn cần hiểu biết nhau nhiều hơn và thúc đẩy các mối dây hiệp thông giữa họ. Tính hiệp hành phải là nguồn cảm hứng cho sự hợp tác của các ngài với Thừa tác vụ Phêrô và cho sự phân định mang tính hiệp đoàn của các ngài trong các Cơ Mật Viện thường lệ hoặc ngoại lệ.

136. Thượng Hội đồng Giám mục nổi lên như một trong những nơi hiển nhiên nhất để thực hành tính hiệp hành và tính hiệp đoàn. Tông hiến Episcopalis communio đã biến Thượng Hội đồng từ một sự kiện thành một tiến trình mang tính Giáo hội. Thượng Hội đồng vốn được thiết lập bởi Thánh Phaolô VI như một đại hội của các giám mục được triệu tập để hỗ trợ Đức Giáo hoàng trong mối bận tâm của ngài đối với toàn thể Giáo hội. Ngày nay, khi được chuyển đổi thành một tiến trình theo từng giai đoạn, Thượng Hội đồng thúc đẩy mối tương quan thiết yếu giữa Dân Thiên Chúa, Giám mục đoàn và Đức Giáo hoàng. Toàn thể Dân Thiên Chúa, các giám mục – những người được trao phó một phần Dân Thiên Chúa –, và Giám mục Rôma đều tham gia trọn vẹn vào tiến trình Thượng Hội đồng, mỗi người theo chức năng riêng của mình. Sự tham gia này được thể hiện rõ trong thành phần tham dự đa dạng của Đại hội Thượng Hội đồng, được quy tụ xung quanh Đức Giáo hoàng, phản ánh tính công giáo của Giáo hội. Cụ thể, như Đức Thánh Cha Phanxicô đã giải thích: Thành phần tham dự của Đại hội Thượng Hội đồng Thường lệ lần thứ XVI thì “vượt trên một thực tại ngẫu nhiên. Nó thể hiện phương thức thi hành thừa tác vụ giám mục cách nhất quán với truyền thống sống động của Giáo hội và với giáo huấn của Công đồng Vaticanô II” (Diễn văn tại Phiên khoáng đại thứ nhất của Khóa họp thứ hai của Đại hội Thượng Hội đồng Thường lệ lần thứ XVI, ngày 02 tháng 10 năm 2024). Thượng Hội đồng Giám mục, khi duy trì bản chất giám mục của mình, đã và có thể sẽ nhận thấy trong tương lai rằng sự tham gia của các thành phần khác trong Dân Thiên Chúa chính là “hình thức mà việc thi hành thẩm quyền giám mục được kêu gọi thực hiện trong một Giáo hội ý thức về bản chất tương quan của mình và do đó mang tính hiệp hành” (sđd.) hướng đến sứ vụ. Khi đào sâu căn tính của Thượng Hội đồng Giám mục, điều cốt yếu là việc phối hợp giữa sự tham gia của tất cả mọi người (Dân Thiên Chúa), của một số người có thừa tác vụ (Giám mục đoàn) và của một người trong vai trò chủ tọa (Người kế vị Thánh Phêrô) phải được thể hiện và được hiện thực hóa cách cụ thể trong toàn bộ tiến trình Thượng Hội đồng cũng như trong các đại hội.

137. Một trong những hoa trái ý nghĩa nhất của Thượng Hội đồng 2021-2024 là lòng nhiệt thành đại kết được gia tăng mạnh mẽ. Việc tìm kiếm “một cách thức thi hành quyền tối thượng mà [...] vẫn mở ra cho một tình huống mới” (UUS 95) là một thách đố căn bản đối với cả Giáo hội hiệp hành truyền giáo lẫn sự hiệp nhất Kitô giáo. Thượng Hội đồng hoan nghênh việc Bộ Thăng tiến Hiệp nhất Kitô giáo gần đây công bố tài liệu “Giám mục Rôma: Quyền tối thượng và tính hiệp hành trong các cuộc đối thoại đại kết và trong các hồi đáp đối với Thông điệp Ut Unum Sint”. Tài liệu này mở ra những hướng nghiên cứu sâu xa hơn, cho thấy rằng việc thăng tiến sự hiệp nhất Kitô giáo là một khía cạnh thiết yếu trong thừa tác vụ của Giám mục Rôma, và hành trình đại kết đã giúp hiểu rõ hơn về thừa tác vụ này. Những đề xuất cụ thể mà tài liệu đưa ra – bao gồm việc đọc lại hoặc chú giải chính thức các tuyên bố tín lý của Công đồng Vaticanô I về: quyền tối thượng, việc phân biệt rõ ràng hơn các trách nhiệm khác nhau của Đức Giáo hoàng, việc thúc đẩy tính hiệp hành trong Giáo hội cũng như trong mối tương quan với thế giới, và việc tìm kiếm một mô hình hiệp nhất dựa trên nền tảng Giáo hội học về hiệp thông – mở ra những triển vọng đầy hứa hẹn cho hành trình đại kết. Đại hội Thượng Hội đồng hy vọng tài liệu này sẽ là nền tảng cho những suy tư tiếp theo với các Kitô hữu khác, “tất nhiên là cùng nhau,” về việc thi hành Thừa tác vụ Hiệp nhất của Giám mục Rôma như một “việc phục vụ của tình yêu được tất cả những người liên quan công nhận” (UUS 95).

138. Sự tham gia rất phong phú của các Đại biểu anh em đến từ các Giáo hội và các Cộng đồng Kitô giáo khác tại Đại hội Thượng Hội đồng mời gọi chúng ta chú ý nhiều hơn đến các thực hành mang tính hiệp hành của các đối tác đại kết của chúng ta, cả ở Đông phương lẫn Tây phương. Đối thoại đại kết có vai trò nền tảng trong việc phát triển sự hiểu biết về tính hiệp hành và sự hiệp nhất của Giáo hội. Điều này thúc đẩy chúng ta triển khai các thực hành mang tính hiệp hành và đại kết, bao gồm các hình thức thỉnh ý và phân định về những vấn đề cấp thiết cùng quan tâm, chẳng hạn như việc tổ chức một Thượng Hội đồng đại kết về việc loan báo Tin mừng. Đồng thời, điều này cũng mời gọi việc giải trình cho nhau về: căn tính của chúng ta, những gì chúng ta làm và những gì chúng ta dạy. Điều làm cho việc này trở nên khả thi chính là sự hiệp nhất của chúng ta trong cùng một Phép rửa, Phép rửa mang lại cho chúng ta động lực cho sự hiệp thông, tham gia và sứ vụ, đồng thời củng cố căn tính của chúng ta như Dân Thiên Chúa.

139. Vào Năm Thánh 2025 chúng ta cũng sẽ kỷ niệm Công đồng Nicaea, Công đồng Đại kết đầu tiên, tại đó kinh Tin kính - biểu tượng đức tin hiệp nhất tất cả các Kitô hữu - đã được hình thành theo cách thức hiệp hành. Việc chuẩn bị và cùng nhau kỷ niệm 1700 năm sự kiện này nên là một cơ hội để cùng nhau đào sâu và tuyên xưng đức tin của chúng ta vào Chúa Kitô và đưa vào thực hành các hình thức hiệp hành giữa các Kitô hữu thuộc mọi truyền thống. Đây cũng sẽ là dịp để khởi xướng những sáng kiến táo bạo nhằm thống nhất ngày mừng lễ Phục sinh chung, nhờ đó chúng ta có thể cùng nhau cử hành mầu nhiệm Chúa Phục Sinh vào cùng một ngày, như sẽ xảy ra một cách quan phòng vào năm 2025. Điều này sẽ làm gia tăng sức mạnh truyền giáo cho việc loan báo về Ngài, Đấng là sự sống và ơn cứu độ của toàn thế giới.

 

Phần V – “THẦY CŨNG SAI ANH EM”

Việc hình thành một dân gồm những môn đệ truyền giáo

Chúa Giêsu lại nói với các ông: “Bình an cho anh em. Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,21-22).

140. Vào buổi chiều Phục sinh, Chúa Giêsu đã trao cho các môn đệ hồng ân cứu độ là sự bình an của Người và làm cho họ trở nên những người tham dự vào sứ vụ của Người. Sự bình an của Chúa nói lên sự sống viên mãn, sự hòa hợp với Thiên Chúa, với anh chị em, và với công trình tạo dựng. Sứ vụ của Người là rao giảng Nước Thiên Chúa, trao ban cho mọi người, không trừ ai, lòng thương xót và tình yêu của Chúa Cha. Cử chỉ tinh tế đi kèm với lời của Đấng Phục Sinh gợi nhớ những gì Thiên Chúa đã làm thuở ban đầu. Giờ đây, trong Phòng Tiệc Ly, với hơi thở của Chúa Thánh Thần, công trình tạo dựng mới bắt đầu: một dân gồm những môn đệ truyền giáo được sinh ra.

141. Dân Thiên Chúa cần được đào luyện thích hợp để có thể làm chứng cho niềm vui của Tin mừng và ngày càng triển nở trong việc thực hành tính hiệp hành: trước hết, trong sự tự do của những người con cái Thiên Chúa khi bước theo Đức Giêsu Kitô, Đấng được chiêm ngắm trong cầu nguyện và được nhận ra nơi những người nghèo. Tính hiệp hành hàm chứa một ý thức sâu xa về ơn gọi và sứ vụ, là nguồn mạch của một cách thức mới để sống các mối tương quan trong Giáo hội, và là động lực mới cho sự tham gia. Điều này cũng đòi hỏi việc thực hành sự phân định Giáo hội, cũng như xây dựng một nền văn hóa đánh giá liên tục. Tuy nhiên, những điều này chỉ có thể trở thành hiện thực nếu đi đôi với những tiến trình đào luyện chuyên sâu. Việc đào luyện về tính hiệp hành và phong cách hiệp hành của Giáo hội sẽ giúp mỗi người ý thức rằng những hồng ân đã lãnh nhận trong Bí tích Rửa tội phải được sử dụng vì lợi ích chung: chúng không thể bị chôn giấu hoặc để hoang phí.

142. Việc đào luyện các môn đệ truyền giáo khởi đầu và bén rễ trong tiến trình Khai tâm Kitô giáo. Trên hành trình đức tin của mỗi người, có vô số cuộc gặp gỡ với những con người, những nhóm, và những cộng đoàn nhỏ đã giúp nuôi dưỡng mối tương quan của họ với Chúa và dẫn đưa họ vào sự hiệp thông với Giáo hội: cha mẹ và thân quyến, cha mẹ đỡ đầu, các giáo lý viên và nhà giáo dục, những người hướng dẫn phụng vụ và hoạt động bác ái, các phó tế, linh mục và chính giám mục. Nhiều người trong số kể trên đã để lại ấn tượng cho chúng ta. Đôi khi, thật không may, khi tiến trình Khai tâm kết thúc, mối liên kết với cộng đoàn trở nên suy yếu và việc đào tạo bị bỏ bê. Tuy nhiên, việc trở thành môn đệ truyền giáo của Chúa không phải là một điều đạt được một lần là đủ. Điều này đòi hỏi một sự hoán cải liên tục, lớn lên trong tình yêu "để đạt tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô" (Ep 4,13) và biết mở lòng đón nhận các hồng ân của Chúa Thánh Thần để làm chứng cho đức tin một cách sống động và tràn đầy niềm vui. Chính vì vậy, điều quan trọng là cần tái khám phá cách mà Thánh lễ Chúa Nhật tạo nên một hành trình đào luyện cho các Kitô hữu: "Mức độ trọn vẹn của việc đào tạo là chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô [...]: đó không phải là một tiến trình trừu tượng trong tâm trí, mà là việc trở nên chính Chúa Kitô" (DD 41). Đối với nhiều tín hữu, Thánh lễ Chúa Nhật là điểm tiếp xúc duy nhất của họ với Giáo hội: Do đó, cần bảo đảm rằng Thánh lễ được cử hành một cách tốt nhất có thể, đặc biệt chú trọng đến bài giảng và sự "tham dự trọn vẹn và tích cực" (SC 14) của mọi người, vì điều này mang tính quyết định đối với tính hiệp hành. Trong Thánh lễ, chúng ta cảm nghiệm tính hiệp hành được thể hiện sống động trong Giáo hội như một ân sủng đến từ Thiên Chúa. Ân sủng này có trước và làm nền tảng cho tính hiệp hành được thực hiện nhờ nỗ lực của chúng ta. Dưới sự chủ tọa của một người và nhờ vào thừa tác vụ của một số ngườitất cả mọi người đều có thể tham dự vào hai bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể. Hồng ân của sự hiệp thông, sứ vụ và tham gia - ba nền tảng của tính hiệp hành - được hiện thực hóa và canh tân trong mỗi Thánh lễ.

143. Một trong những yêu cầu được nổi lên mạnh mẽ nhất và đến từ mọi bối cảnh trong tiến trình Thượng Hội đồng là việc đào tạo mà các cộng đoàn Kitô giáo cung cấp phải mang tính toàn diện, liên tục và có tính chia sẻ. Việc đào tạo này không chỉ nhằm đạt được kiến thức lý thuyết, mà còn phải thúc đẩy khả năng mở ra và gặp gỡ, chia sẻ và hợp tác, suy tư và phân định chung. Vì vậy, việc đào tạo phải bao hàm tất cả các chiều kích của con người (trí tuệ, cảm xúc, tương quan và thiêng liêng), và bao gồm cả những kinh nghiệm cụ thể, những kinh nghiệm này cần được đồng hành một cách thích hợp. Trong suốt tiến trình Thượng Hội đồng, cũng có một sự nhấn mạnh đặc biệt về nhu cầu đào tạo chung và có tính chia sẻ, trong đó nam giới và nữ giới, giáo dân, tu sĩ, thừa tác viên có chức thánh và ứng sinh vào thừa tác vụ thánh cùng tham gia, nhờ đó giúp họ cùng nhau phát triển sự hiểu biết, lòng quý trọng lẫn nhau và khả năng hợp tác. Điều này đòi hỏi sự hiện diện của những nhà đào tạo phù hợp và có năng lực, những người có khả năng làm chứng bằng chính đời sống của họ cho những gì họ truyền đạt qua lời nói. Chỉ bằng cách này, việc đào tạo mới thực sự có sức trổ sinh và biến đổi. Hơn nữa, không thể bỏ qua những đóng góp của các ngành nghiên cứu sư phạm trong việc định hướng rõ ràng hơn cho công tác đào tạo, các phương pháp giảng dạy và học tập dành cho người trưởng thành, cũng như việc đồng hành với các cá nhân và cộng đoàn. Do đó, cần phải đầu tư vào việc đào tạo các nhà đào tạo.

144. Giáo hội đã có nhiều không gian và nguồn lực để đào tạo các môn đệ truyền giáo, nơi các gia đình, các cộng đoàn nhỏ, các giáo xứ, các hiệp hội Giáo hội, các chủng viện và các cộng đoàn dòng tu, các học viện, cũng như những nơi phục vụ và làm việc với những người bên lề xã hội, cùng với các sáng kiến truyền giáo và thiện nguyện. Trong mỗi lĩnh vực này, cộng đoàn thể hiện khả năng đào tạo trong tinh thần môn đệ và đồng hành bằng chứng tá. Cuộc gặp gỡ cộng đoàn này thường quy tụ những người thuộc nhiều thế hệ khác nhau, từ người trẻ đến người cao niên. Trong Giáo hội, không ai chỉ đơn thuần là người tiếp nhận sự đào tạo; vì mỗi người đều là một chủ thể tích cực và có điều gì đó để trao ban cho người khác. Ngoài ra, lòng đạo đức bình dân cũng là một kho tàng quý giá của Giáo hội, giúp toàn thể Dân Thiên Chúa được giáo dục và lớn lên trong hành trình (x. Aparecida, 259.261).

145. Trong số các hoạt động đào tạo có thể được hỗ trợ từ động lực mới của tính hiệp hành, cần đặc biệt chú ý đến việc dạy giáo lý, để ngoài chức năng là một phần của hành trình khai tâm, việc dạy giáo lý còn tiếp tục thúc đẩy mọi người đi ra trong sứ vụ. Các cộng đoàn môn đệ truyền giáo sẽ biết cách thực hiện việc dạy giáo lý dưới dấu chỉ của lòng thương xót và làm cho nó gần gũi hơn với kinh nghiệm sống của mỗi người, đưa nó đến các vùng ngoại vi hiện sinh mà không làm mất đi nội dung trong sách Giáo lý Giáo hội Công giáo, như một điểm tham chiếu. Như thế, việc dạy giáo lý có thể trở thành một "phòng thí nghiệm đối thoại" với những người nam nữ trong thời đại của chúng ta (x. Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin mừng, Chỉ nam Tổng quát về Huấn giáo, 54) và soi sáng cho cuộc tìm kiếm ý nghĩa của họ. Trong nhiều Giáo hội, các giáo lý viên là nguồn lực cơ bản để đồng hành và đào tạo; ở những Giáo hội khác, việc phục vụ của họ phải được cộng đoàn trân trọng và nâng đỡ nhiều hơn, loại trừ lôgic phó mặc, vốn mâu thuẫn với tính hiệp hành. Xét đến quy mô của hiện tượng di dân, điều quan trọng là việc dạy giáo lý phải thúc đẩy những tương quan quen biết lẫn nhau sâu sắc hơn giữa các Giáo hội tại các nơi xuất xứ và các nơi tiếp nhận.

146. Ngoài các môi trường và tài nguyên mục vụ chuyên biệt, cộng đoàn Kitô hữu còn hiện diện trong nhiều không gian đào tạo khác, chẳng hạn như các trường học, các cơ sở đào tạo nghề và các trường đại học, cũng như những nơi đào luyện con người cho dấn thân xã hội và chính trị, và cho các lĩnh vực thể thao, âm nhạc và nghệ thuật. Bất chấp sự đa dạng của các bối cảnh văn hóa vốn định hình nên những thực hành và truyền thống rất khác nhau, các trung tâm đào tạo mang tinh thần Công giáo đang ngày càng thấy mình ở tuyến đầu của một Giáo hội luôn đi ra trong sứ vụ. Được truyền cảm hứng từ các thực hành của tính hiệp hành, những trung tâm này có thể trở thành những mảnh đất màu mỡ cho các mối tương quan thân thiết và có tính tham gia. Chúng trở thành những không gian làm chứng cho đời sống; trong đó, các kỹ năng và việc tổ chức phần lớn do giáo dân tham gia đảm trách, cũng như sự đóng góp của các gia đình được ưu tiên. Đặc biệt, các trường học và đại học Công giáo đóng vai trò quan trọng trong cuộc đối thoại giữa đức tin và văn hóa, và trong việc giáo dục luân lý về các giá trị, từ đó cung cấp một nền đào tạo hướng đến Đức Kitô, Đấng là biểu tượng của sự sống viên mãn. Như vậy, các trường này có khả năng thúc đẩy một mô hình thay thế cho những mô hình thống trị vốn thường bị chi phối bởi chủ nghĩa cá nhân và sự cạnh tranh, qua đó các trường này cũng đảm nhận một vai trò ngôn sứ. Trong một số bối cảnh, các trường này còn là những không gian duy nhất mà trẻ em và thanh thiếu niên có thể tiếp xúc với Giáo hội. Khi được truyền cảm hứng bởi việc đối thoại liên văn hóa và liên tôn, sự dấn thân giáo dục của các trường này cũng được những người thuộc các truyền thống tôn giáo khác đánh giá cao như một hình thức phát triển con người.

147. Việc cộng tác đào tạo phong cách hiệp hành cho tất cả những người đã nhận Phép rửa tạo nên chân trời để hiểu và thực hành việc đào tạo chuyên biệt theo từng thừa tác vụ và ơn gọi. Để điều này có thể diễn ra, việc đào tạo cần được triển khai như một sự trao đổi các hồng ân giữa các ơn gọi khác nhau (hiệp thông), trong viễn cảnh của một việc phục vụ được thực thi (sứ vụ) và theo một phong cách tham gia và giáo dục với tinh thần đồng trách nhiệm trong sự khác biệt (tham gia). Yêu cầu này, vốn nổi bật trong tiến trình Thường Hội đồng, thường đòi hỏi một sự thay đổi tư duy đầy thách thức và một cách tiếp cận mới đối với cả bối cảnh lẫn tiến trình đào tạo. Trên hết, điều này đòi hỏi một sự sẵn sàng bên trong là luôn muốn được phong phú thêm nhờ cuộc gặp gỡ với anh chị em trong đức tin, từ đó vượt qua được những định kiến và quan điểm cục bộ. Chiều kích đại kết của việc đào tạo chắc chắn sẽ hỗ trợ sự thay đổi tư duy này.

148. Trong suốt tiến trình Thượng Hội đồng, một yêu cầu được bày tỏ rộng rãi là việc phân định và đào tạo các ứng viên lãnh nhận thừa tác vụ chức thánh cần được thực hiện theo phương cách hiệp hành. Điều này đòi hỏi: một sự hiện diện đáng kể của phụ nữ, một sự hòa nhập vào đời sống thường nhật của các cộng đoàn, cũng như việc đào tạo để có thể hợp tác với mọi thành phần trong Giáo hội và về cách thực hành phân định mang tính Giáo hội. Điều này bao hàm một sự can đảm đầu tư năng lực vào việc đào tạo những nhà đào tạo. Đại hội kêu gọi duyệt lại “Quy chế Đào tạo Linh mục - Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis” nhằm tích hợp những yêu cầu mà Thượng Hội đồng đã nêu ra. Những yêu cầu này cần được chuyển thành các hướng dẫn cụ thể chuẩn xác nhằm giúp ích cho việc đào tạo theo tính hiệp hành. Những lộ trình đào tạo cần khơi dậy nơi các ứng viên lòng nhiệt thành đối với sứ vụ đến với muôn dân (ad gentes). Việc đào tạo các giám mục cũng cần thiết để các ngài có thể đảm nhận tốt hơn sứ vụ của mình là quy tụ trong sự hiệp nhất các hồng ân của Chúa Thánh Thần, và thực thi trong phong cách hiệp hành quyền bính đã được trao cho mình. Cách thức đào tạo theo tính hiệp hành còn đòi hỏi chiều kích đại kết phải hiện diện trong mọi khía cạnh của hành trình hướng tới các thừa tác vụ có chức thánh.

149. Tiến trình Thượng Hội đồng đã không ngừng nhấn mạnh đến một số lĩnh vực cụ thể trong việc đào tạo Dân Thiên Chúa về tính hiệp hành. Trước hết, cần quan tâm đến tác động của môi trường kỹ thuật số đối với quá trình học tập, khả năng tập trung, nhận thức về bản thân và thế giới, cũng như việc xây dựng các mối tương quan liên nhân vị. Văn hóa kỹ thuật số làm nên một chiều kích quan trọng trong chứng tá của Giáo hội trong nền văn hóa ngày nay và cũng là một cánh đồng truyền giáo mới đang hình thành. Điều này đòi hỏi phải bảo đảm rằng sứ điệp Kitô giáo hiện diện trực tuyến phải theo những cách đáng tin cậy, không bị bóp méo bởi các khuynh hướng ý thức hệ. Dù truyền thông kỹ thuật số có tiềm năng lớn trong việc cải thiện đời sống con người, nhưng nó cũng có thể gây tổn hại và nguy hiểm qua các hình thức như bắt nạt, thông tin sai lệch, khai thác tình dục và nghiện ngập. Các tổ chức giáo dục của Giáo hội cần giúp trẻ em và người lớn phát triển các kỹ năng tư duy phản biện để an toàn khi sử dụng không gian mạng.

150. Một lĩnh vực quan trọng khác là việc thúc đẩy văn hóa bảo vệ trong mọi bối cảnh của Giáo hội, nhằm bảo đảm rằng các cộng đoàn ngày càng trở thành những nơi an toàn cho trẻ vị thành niên và những người dễ bị tổn thương. Công việc trang bị cho các cơ cấu Giáo hội những quy định và quy trình pháp lý để ngăn ngừa lạm dụng và có phản ứng kịp thời đối với các hành vi không phù hợp đã được khởi sự. Cần tiếp tục dấn thân vào công việc này bằng cách cung cấp sự đào tạo chuyên biệt và liên tục cho những ai làm việc với trẻ vị thành niên và người dễ bị tổn thương, giúp họ hành động cách chuyên nghiệp và nhận diện được những dấu hiệu, dù âm thầm, của những người đang gặp khó khăn và cần trợ giúp. Điều thiết yếu là các nạn nhân phải được đón nhận và nâng đỡ, và điều này cần được thực hiện với sự nhạy cảm sâu sắc. Việc đồng hành với họ đòi hỏi một tâm thế đầy nhân văn và phải có sự trợ giúp của những người có chuyên môn. Tất cả chúng ta cần để cho mình được đánh động bởi nỗi đau của họ, thực hành sự gần gũi và, qua những chọn lựa cụ thể, nâng đỡ, giúp họ chữa lành và chuẩn bị một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người. Các quy trình bảo vệ phải được theo dõi và đánh giá thường xuyên. Các nạn nhân và những người sống sót cần được đón nhận và hỗ trợ với lòng cảm thông sâu sắc.

151. Những mối quan tâm của học thuyết xã hội của Giáo hội, chẳng hạn như: sự dấn thân cho hòa bình và công lý, việc chăm sóc ngôi nhà chung, cũng như đối thoại liên văn hóa và liên tôn, cần được phổ biến rộng rãi hơn trong Dân Thiên Chúa, để hành động của các môn đệ truyền giáo có thể góp phần xây dựng một thế giới công bằng và nhân ái hơn. Việc dấn thân bảo vệ sự sống và nhân quyền, vì trật tự công bằng xã hội, vì phẩm giá lao động, vì một nền kinh tế công bằng và liên đới, cũng như vì một nền sinh thái toàn diện, là một phần trong sứ vụ loan báo Tin mừng mà Giáo hội được mời gọi thực thi và nhập thể trong dòng lịch sử.

 

Kết luận

Một bữa tiệc cho muôn dân

“Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, có cả bánh nữa. […] Đức Giêsu nói: “Anh em đến mà ăn”. Không ai trong các môn đệ dám hỏi “Ông là ai?”, vì các ông biết rằng đó là Chúa. Đức Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông, rồi cá, Người cũng làm như vậy” (Ga 21,9.12-13).

152. Phép lạ đánh bắt cá kết thúc bằng một bữa tiệc. Đấng Phục Sinh đã yêu cầu các môn đệ tuân theo Lời Người, thả lưới và kéo chúng lên bờ. Tuy nhiên, chính Người chuẩn bị bữa tiệc và mời họ dùng bữa. Có bánh và cá cho tất cả mọi người, giống như khi Người hóa bánh ra nhiều cho đám đông đang đói. Quan trọng nhất là sự hiện diện của Người có sự kỳ diệu và sự lôi cuốn, sự hiện diện rất rõ ràng và rực rỡ đến mức không ai cần phải đặt câu hỏi. Một lần nữa cùng ăn với họ, sau khi họ bỏ và chối Người, Chúa Giêsu mời gọi họ hiệp thông với Người, ghi khắc trên họ dấu chỉ của lòng thương xót vĩnh cửu của Người, lòng thương xót mở ra tương lai cho họ. Những người tham dự vào lễ Phục sinh này rồi sẽ nhận mình là “những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại” (Cv 10,41).

153. Khi chia sẻ bữa ăn với các môn đệ, Đấng Phục Sinh làm ứng nghiệm hình ảnh Ngôn sứ Isaia loan báo – những lời của Ngôn sứ Isaia về hình ảnh này đã truyền cảm hứng cho công việc của Thượng Hội đồng: một bữa tiệc linh đình và dư dật do chính Thiên Chúa chuẩn bị trên đỉnh núi, bữa tiệc là biểu tượng của sự thân thiện và hiệp thông được dành cho muôn dân (x. Is 25,6-8). Bữa tiệc mà Chúa chuẩn bị cho các môn đệ của Người sau Phục sinh là một dấu chỉ cho thấy bữa tiệc cánh chung đã bắt đầu. Ngay cả khi chỉ được trọn vẹn trên Thiên đàng, bữa tiệc của ân sủng và lòng thương xót vẫn được dọn cho tất cả mọi người. Giáo hội có sứ vụ mang lời loan báo tuyệt vời này đến một thế giới không ngừng biến đổi. Trong khi được nuôi dưỡng trong Bí tích Thánh Thể bởi Mình và Máu Chúa, Giáo hội biết rằng mình không thể quên những người nghèo nhất, những người rốt hết, những người bị loại trừ, những người không biết đến tình yêu và không có hy vọng, cũng như những người không tin vào Chúa hoặc không nhận mình thuộc về bất kỳ tôn giáo nào. Trong lời cầu nguyện, Giáo hội dâng họ lên Chúa và sau đó lên đường gặp gỡ họ với sự sáng tạo và lòng can đảm do Thánh Thần khơi dậy. Vì thế, tính hiệp hành của Giáo hội trở thành một lời ngôn sứ mang tính xã hội cho thế giới ngày nay, thôi thúc những nẻo đường mới trong các lĩnh vực chính trị và kinh tế, cũng như hợp tác với tất cả những ai tin vào tình huynh đệ và hòa bình trong một cuộc trao đổi các hồng ân với thế giới.

154. Cảm nghiệm lại suốt quá trình Thượng Hội đồng, chúng ta đã canh tân nhận thức của mình rằng ơn cứu độ được đón nhận và được loan báo vốn có tính tương quan. Chúng ta cùng nhau sống và làm chứng cho ơn cứu độ này. Lịch sử phơi bày trước mắt chúng ta những dấu ấn bi thảm của chiến tranh, sự tranh giành quyền lực, cũng như muôn vàn bất công và lạm dụng. Tuy nhiên, chúng ta biết Chúa Thánh Thần đã đặt vào tâm hồn mỗi con người niềm khao khát những mối tương quan đích thực và những mối dây liên kết chân thực. Chính công trình tạo dựng cũng nói lên sự hiệp nhất và chia sẻ, sự đa dạng và các hình thức sống liên kết khác nhau. Mọi sự đều khởi nguồn từ sự hài hòa và quy hướng về sự hài hòa, cho dù đang bị tàn phá bởi sự dữ. Ý nghĩa tối hậu của tính hiệp hành là làm chứng rằng Giáo hội được kêu gọi để đáp lại Thiên Chúa – Cha, Con và Thánh Thần – Đấng là sự hòa hợp của tình yêu, tình yêu mà chính Thiên Chúa tuôn đổ ra để ban chính Ngài cho thế giới. Bằng cách bước đi trên con đường hiệp hành, trong sự đan kết của các ơn gọi, các đặc sủng và các thừa tác vụ của chúng ta, cũng như bằng cách lên đường gặp gỡ mọi người để mang lại niềm vui của Tin mừng, chúng ta có thể trải nghiệm được sự hiệp thông cứu rỗi với Thiên Chúa, với toàn thể nhân loại và với toàn thể thụ tạo. Theo cách này, nhờ sự chia sẻ này, chúng ta đã bắt đầu trải nghiệm bữa tiệc sự sống mà Thiên Chúa ban cho muôn dân.

155. Chúng ta phó dâng thành quả của Thượng Hội đồng này cho Đức Trinh Nữ Maria, Đấng được tôn vinh với tước hiệu sáng ngời là Odigitria: Đức Mẹ chỉ bảo đàng lành. Nguyện xin Mẹ là Mẹ Giáo hội, là Đấng đã hiện diện tại Phòng Tiệc Ly để nâng đỡ cộng đoàn các tông đồ mới được thành lập và để mở lòng các tông đồ đón nhận sự mới mẻ của lễ Hiện xuống, xin dạy chúng con biết sống như một Dân Thiên Chúa gồm các môn đệ truyền giáo cùng tiến bước với nhau, để Giáo hội thực sự trở thành một Giáo hội hiệp hành.

Vatican, ngày 26 tháng 10 năm 2024

Phanxicô

 

 

Phụ lục 1: Diễn văn khai mạc Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục

Diễn văn khai mạc
Đại hội Thường lệ lần thứ XVI
của Thượng Hội đồng Giám mục

Hội trường Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, thứ Tư ngày 02 tháng 10 năm 2024

Anh chị em thân mến,

Kể từ khi Giáo hội của Chúa được “triệu tập trong Thượng Hội đồng” vào tháng 10 năm 2021, chúng ta đã cùng nhau đi một phần của hành trình dài mà Chúa Cha không ngừng kêu gọi dân của Ngài. Ngài sai họ đến với muôn dân để loan báo Tin mừng rằng Đức Giêsu Kitô chính là bình an của chúng ta (x. Ep 2,14) và Ngài củng cố họ trong sứ vụ của họ thông qua Chúa Thánh Thần.

Khóa họp này, được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần - Đấng “uốn nắn điều cứng cỏi, sưởi ấm chỗ lạnh lùng, chỉnh đốn lại chỗ trật đường” (Ca tiếp liên, lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống), sẽ luôn cần đến chính Chúa Thánh Thần để góp phần xây dựng một Giáo hội hiệp hành truyền giáo, một Giáo hội biết lên đường để hiện diện giữa những vùng ngoại biên, cả về địa lý lẫn hiện sinh, và tận tâm thiết lập mối tương quan với mọi người nơi đó, trong Đức Kitô, Đấng là Anh và là Chúa của chúng ta.

Một bản văn của một tác giả thiêng liêng vào thế kỷ thứ tư (x. Macario Alessandrino, Om. 18,7-11; PG 34,639-642) đã tóm lược điều xảy ra khi Chúa Thánh Thần hoạt động trong Bí tích Rửa Tội, bí tích ban cho mọi người phẩm giá bình đẳng. Những trải nghiệm mà tác giả này mô tả có thể cho phép chúng ta đánh giá cao những gì đã xảy ra trong ba năm qua và những gì sắp xảy ra.

Suy tư của tác giả thiêng liêng này giúp chúng ta hiểu rằng Chúa Thánh Thần là Đấng hướng dẫn một cách chắc chắn, và nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta là học cách phân định tiếng nói của Chúa Thánh Thần, bởi vì Chúa Thánh Thần nói qua mọi người và trong mọi sự. Kinh nghiệm hiệp hành đã giúp chúng ta cảm nghiệm thực tại này.

Chúa Thánh Thần luôn đồng hành với chúng ta. Người an ủi chúng ta trong những lúc đau buồn và thử thách, đặc biệt khi – chính vì tình yêu dành cho nhân loại – chúng ta phải đối diện với những thực trạng bất công dường như đang thắng thế, những cản trở trong việc lấy thiện báo ác, những khó khăn trong việc tha thứ, hay sự thiếu can đảm trong nỗ lực kiến tạo hòa bình. Trong những giây phút ấy, dường như không còn gì có thể làm được nữa, và chúng ta dễ rơi vào tuyệt vọng. Nếu hy vọng là nhân đức khiêm nhường nhất nhưng mạnh mẽ nhất, thì tuyệt vọng lại là điều tồi tệ nhất.

Chúa Thánh Thần lau khô nước mắt chúng ta và an ủi chúng ta, vì Ngài thông truyền niềm hy vọng của Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi, bởi lẽ tình yêu của Ngài là bất tận.

Chúa Thánh Thần thấm nhập vào tâm hồn, phần sâu thẳm nhất trong chúng ta, nơi thường giống như một tòa án, nơi ta đặt người khác vào ghế bị cáo và đưa ra phán xét, thường là kết tội họ. Chính thánh Macarius, trong bài giảng của ngài, đã nói rằng Chúa Thánh Thần thắp lên trong tâm hồn những ai đón nhận Ngài một ngọn lửa, một “ngọn lửa tràn đầy niềm vui và tình yêu đến nỗi, nếu có thể, tất cả mọi người - không phân biệt tốt hay xấu - đều muốn mang vào trong tâm hồn mình”. Điều này là vì Thiên Chúa luôn đón nhận mọi người, không trừ ai. Chúng ta đừng bao giờ quên điều này: tất cả, tất cả, tất cả, và luôn luôn. Ngài không ngừng trao ban cho mọi người những cơ hội mới trong cuộc sống, ngay cả đến giây phút cuối cùng. Chính vì thế, chúng ta phải tha thứ cho tất cả mọi người, trong mọi hoàn cảnh, với ý thức rằng lòng sẵn sàng tha thứ phát xuất từ kinh nghiệm đã được tha thứ. Người duy nhất không thể tha thứ là người chưa từng cảm nghiệm được sự tha thứ.

Hôm qua, trong buổi canh thức sám hối, chúng ta đã có kinh nghiệm này. Chúng ta cầu xin sự tha thứ, chúng ta nhận ra mình là tội nhân. Chúng ta gạt bỏ lòng kiêu hãnh và gạt bỏ sự tự phụ khi tưởng tượng rằng mình tốt hơn người khác. Trên thực tế, chúng ta đã trở nên khiêm nhường hơn chưa?

Sự khiêm nhường cũng là một hồng ân của Chúa Thánh Thần: Chúng ta cần cầu xin điều đó. Như chính nguồn gốc từ khiêm nhường cho thấy, khiêm nhường đưa chúng ta trở về lại với đất, với humus, và nhắc nhớ ta về nguồn cội của mình - rằng nếu không có hơi thở của Đấng Tạo Hóa, chúng ta vẫn chỉ là bùn đất vô hồn. Khiêm nhường giúp ta nhìn thế giới với sự nhận thức rằng mình không hơn ai cả. Như Thánh Phaolô đã nói: “Anh em đừng cho mình là khôn ngoan” (Rm 12,16).

Hơn nữa, không thể có sự khiêm nhường nếu thiếu tình yêu. Người Kitô hữu cần mang trong mình tinh thần mà Dante Alighieri đã diễn tả trong một bài sonnet, khi nói về những người phụ nữ đang đau buồn vì cái chết của thân phụ Beatrice: “Những ai mang dáng vẻ khiêm nhường, với ánh mắt cúi xuống, biểu lộ nỗi buồn đau” (Vita Nuova XXII, 9). Đây chính là sự khiêm nhường của tình liên đới và lòng trắc ẩn, sự khiêm nhường của những ai coi mọi người là anh chị em, chia sẻ nỗi đau của họ và nhận ra nơi vết thương và khổ đau của nhân loại chính những thương tích của Chúa chúng ta.

Tôi khuyến khích anh chị em suy niệm trong cầu nguyện về bản văn thiêng liêng tuyệt vời này và nhận ra rằng Giáo hội – semper reformanda (liên lỉ canh tân) – không thể tiếp tục hành trình và không thể được đổi mới nếu không có Chúa Thánh Thần và những sự ngạc nhiên của Ngài; nếu không để mình được uốn nắn bởi bàn tay của Thiên Chúa Sáng Tạo, bởi Người Con là Đức Giêsu Kitô, và bởi Chúa Thánh Thần, như thánh Irênê thành Lyon đã dạy (x. Adversus Hæreses IV, 20, 1).

Ngay từ lúc khởi đầu, khi Thiên Chúa tạo ra con người từ bụi đất; từ khi Ngài kêu gọi Tổ phụ Ápraham trở thành phúc lành cho muôn dân trên mặt đất và kêu gọi Môsê dẫn dắt một dân tộc được giải phóng khỏi ách nô lệ băng qua sa mạc; từ khi Đức Trinh Nữ Maria đón nhận Ngôi Lời, trở thành Mẹ của Con Thiên Chúa theo xác phàm, và là Mẹ của tất cả những ai trở thành môn đệ của Người Con ấy; từ khi Đức Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh để đổ tràn Chúa Thánh Thần trong ngày Hiện xuống – kể từ đó, chúng ta đã và đang bước đi, như những người “được xót thương”, hướng tới sự viên mãn trọn vẹn và chung cuộc của tình yêu Chúa Cha. Và chúng ta đừng quên điều này: chúng ta đã “được xót thương”.

Chúng ta ý thức được vẻ đẹp cũng như những khó khăn của hành trình hiệp hành này. Chúng ta đang cùng nhau tiến bước như một dân tộc, một dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại trong thời đại hôm nay (x. LG 1). Chúng ta thực hiện hành trình này cùng với và vì mọi người thiện chí, nơi mỗi người ấy ân sủng đang âm thầm hoạt động (x. GS 22). Chúng ta tiến bước với niềm xác tín vào bản chất “tương quan” của Giáo hội và với trách nhiệm chăm sóc những mối tương quan ấy, vốn đã được trao ban cho chúng ta và được ủy thác cho tinh thần trách nhiệm và sự sáng tạo của chúng ta, để các mối tương quan ấy luôn là dấu chỉ của lòng thương xót nhưng không. Một người tự nhận là Kitô hữu mà không bước vào trong ân sủng nhưng không và lòng thương xót của Thiên Chúa thì thực chất chỉ là một người vô thần đội lốt Kitô giáo. Chính lòng thương xót của Thiên Chúa làm cho chúng ta trở nên đáng tin cậy và có trách nhiệm.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy cùng nhau tiến bước, luôn ý thức rằng chúng ta được mời gọi, như vầng trăng thanh, để phản chiếu ánh sáng từ Mặt Trời của chúng ta, là Đức Kitô, để trung thành và hân hoan đón nhận sứ vụ trở thành bí tích của ánh sáng ấy cho thế gian – một ánh sáng không phát xuất từ chính chúng ta.

Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XVI nay đã bước vào Khóa họp thứ hai, thể hiện cách thức mới mẻ về hành trình chung này của Dân Thiên Chúa.

Trực giác của thánh Giáo hoàng Phaolô VI, khi ngài thành lập Thượng hội đồng Giám mục vào năm 1965, đã tỏ ra rất hiệu quả.  Hơn sáu mươi năm đã qua, chúng ta đã học được cách nhìn nhận Thượng Hội đồng Giám mục như một chủ thể đa nguyên và hòa hợp, có khả năng hỗ trợ hành trình và sứ vụ liên tục của Giáo hội Công giáo, giúp đỡ một cách hiệu quả cho Giám mục Rôma trong việc phục vụ sự hiệp thông của tất cả các Giáo hội và của toàn thể Giáo hội hoàn vũ.

Thánh Phaolô VI đã nhận thức rõ rằng “Thượng Hội đồng này, cũng giống như mọi định chế của con người, có thể được cải thiện theo thời gian” (Apostolica Sollicitudo). Tông hiến Episcopalis Communio có ý định xây dựng dựa trên kinh nghiệm của nhiều Đại hội Thượng Hội đồng khác nhau (Thường lệ, Ngoại lệ, và Đặc biệt) bằng cách trình bày rõ ràng Đại hội Thượng Hội đồng như một tiến trình chứ không chỉ đơn thuần là một sự kiện mà thôi.

Tiến trình Thượng Hội đồng cũng là một tiến trình học tập, trong tiến trình đó, Giáo hội hiểu rõ hơn về chính mình và xác định các hình thức hoạt động mục vụ phù hợp nhất với sứ vụ mà Chúa đã giao phó cho Giáo hội. Tiến trình học tập này cũng bao gồm các cách thức thực thi thừa tác vụ của các mục tử, và đặc biệt là của các giám mục.

Khi chọn triệu tập một số lượng lớn giáo dân và người thánh hiến (nam và nữ), phó tế và linh mục với tư cách là tham dự viên chính thức của Đại hội lần thứ XVI này, phát triển những gì đã được hình dung một phần cho các Đại hội trước đó, tôi đã hành động theo sự hiểu biết về việc thực hiện thừa tác vụ giám mục do Công đồng chung Vaticanô II đề ra: Giám mục, nguyên tắc và nền tảng hữu hình của sự hiệp nhất của mỗi Giáo hội địa phương, không thể thực hiện thừa tác vụ của mình nếu không phục vụ trong Dân Thiên Chúa và với Dân Thiên Chúa, bằng cách đi trước, ở giữa và đi sau đoàn Dân Thiên Chúa được ủy thác cho mình chăm sóc. Sự hiểu biết bao quát này về thừa tác vụ giám mục có nghĩa là phải được nhìn thấy rõ, đồng thời phải tránh hai nguy cơ. Mối nguy thứ nhất là tính trừu tượng, quên mất tính cụ thể tích cực của những nơi chốn và các mối tương quan cũng như giá trị của mỗi cá nhân; mối nguy thứ hai là phá vỡ sự hiệp thông bằng cách đặt hàng giáo phẩm đối nghịch với giáo dân. Chắc chắn đây không phải là vấn đề thay thế bên này bằng bên kia, cũng không bị thúc đẩy bởi những lời hô hào như: “Bây giờ đến lượt chúng ta!” Không, điều này không đúng: “Bây giờ đến lượt giáo dân chúng ta”, “Bây giờ đến lượt linh mục chúng ta.” Không, điều này không đúng. Trái lại, điều được yêu cầu là cùng nhau hoạt động theo một phong cách hòa hợp, như trong một bản hòa tấu kết hợp tất cả chúng ta vào việc phục vụ lòng thương xót của Thiên Chúa, theo các thừa tác vụ và đặc sủng khác nhau mà giám mục có trách nhiệm nhận biết và cổ võ.

Cùng nhau tiến bước – tất cả mọi người, tất cả cùng nhau – là một hành trình trong đó Giáo hội, ngoan ngùy vâng theo tác động của Chúa Thánh Thần và đủ nhạy bén để nhận ra các dấu chỉ thời đại (x. GS 4), không ngừng tự canh tân và kiện toàn bản chất bí tích của mình, hầu trở nên chứng tá đáng tin cậy cho sứ vụ mà Giáo hội được mời gọi là quy tụ muôn dân thành một dân duy nhất, dân tộc sẽ được mong đời vào thời sau hết, khi đó chính Thiên Chúa sẽ mời gọi chúng ta vào tham dự bữa tiệc mà Ngài đã dọn sẵn (x. Is 25,6-10).

Do đó, thành phần tham dự của Đại hội Thượng Hội đồng Thường lệ lần thứ XVI thì vượt trên một thực tại ngẫu nhiên. Nó thể hiện phương thức thi hành thừa tác vụ giám mục cách nhất quán với truyền thống sống động của Giáo hội và với giáo huấn của Công đồng Vaticanô II: Không một Giám mục nào, và cũng không một Kitô hữu nào, được phép nghĩ về chính mình mà không có tha nhân. Cũng như không ai được cứu độ một mình, việc loan báo ơn cứu độ đòi hỏi sự tham gia của tất cả mọi người và cần lắng nghe tất cả mọi người.

Việc có mặt các thành viên không thuộc hàng giám mục tại Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục không làm suy giảm tính "giám mục" của Đại hội này. Càng không phải là một sự giới hạn hay làm phương hại đến thẩm quyền của từng giám mục hoặc của giám mục đoàn (collegium episcopale) - tôi nhấn mạnh điều này bởi lẽ có những lời xầm xì đang lan truyền khắp nơi, gây ra không ít xáo trộn. Trái lại, sự hiện diện này cho thấy cách thức mà thẩm quyền giám mục được mời gọi thực thi trong một Giáo hội ý thức sâu xa về bản chất tương quan của mình và do đó, có tính hiệp hành. Mối tương quan với Đức Kitô và với tha nhân trong Đức Kitô – dù là những người đang hiện diện hay những người chưa ở đây nhưng vẫn được Chúa Cha mong đợi – làm hoàn thiện bản chất và định hình diện mạo của toàn thể Giáo hội qua mọi thời đại.

Những hình thức khác nhau của tính "hiệp đoàn" và tính "hiệp hành" trong việc thi hành thừa tác vụ giám mục – dù là trong các Giáo hội địa phương, trong các nhóm Giáo hội, hay trong toàn thể Giáo hội – sẽ cần được xác định một cách thích hợp, luôn trong sự tôn trọng kho tàng đức tin và truyền thống sống động, và luôn đáp lại những gì Chúa Thánh Thần đang mời gọi các Giáo hội vào thời điểm đặc thù hiện nay và trong những bối cảnh cụ thể mà họ đang sống. Và chúng ta đừng quên rằng Chúa Thánh Thần chính là sự hòa hợp. Hãy nhớ đến buổi sáng ngày lễ Ngũ tuần: Lúc ấy có một sự hỗn loạn đầy sợ hãi, nhưng chính Ngài đã mang đến sự hòa hợp trong sự hỗn loạn đó. Chúng ta đừng quên rằng Ngài thật sự là sự hòa hợp. Đây không phải là một sự hòa hợp ngụy tạo, mang tính lý thuyết, mà là một sự hòa hợp toàn diện, mang chiều kích hiện sinh.

Chúa Thánh Thần làm cho Giáo hội luôn trung tín với lệnh truyền của Chúa Giêsu Kitô và luôn lắng nghe Lời Người. Chính Chúa Thánh Thần hướng dẫn các môn đệ tới sự thật toàn vẹn (x. Ga 16,13). Ngài cũng đang hướng dẫn chúng ta, những người quy tụ trong Chúa Thánh Thần tại Đại hội này, để đưa ra câu trả lời, sau hành trình ba năm, cho câu hỏi: Làm thế nào để trở thành một Giáo hội hiệp hành trong sứ vụ. Tôi muốn thêm rằng: một Giáo hội “giàu lòng thương xót”.

Với một tâm hồn tràn đầy hy vọng và lòng tri ân, và ý thức về sứ vụ đầy thách đố đã được trao phó cho anh chị em (và cho chính chúng ta), tôi hy vọng mọi người sẽ sẵn sàng mở lòng ra với tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng hướng dẫn trung tín và là nguồn an ủi của chúng ta. Xin cảm ơn anh chị em!

 

 

Phụ lục 2: Diễn văn bế mạc Khóa họp thứ hai của Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XVI

Diễn văn bế mạc của Đức thánh cha Phanxicô dành cho Khóa họp thứ hai của Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XVI

Hội trường Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, thứ Bảy ngày 26 tháng 10 năm 2024

Anh chị em thân mến,

Với Văn kiện Chung kết, chúng ta đã thu hoạch những thành quả của ít nhất ba năm qua, trong đó chúng ta đã dấn thân lắng nghe Dân Thiên Chúa, hầu hiểu biết sâu xa hơn – qua việc lắng nghe Chúa Thánh Thần – về cách trở thành một “Giáo hội hiệp hành” trong thời đại này. Những trích dẫn Kinh thánh ở đầu mỗi chương đặt nền tảng cho sứ điệp bằng cách liên kết nội dung với các hành động và lời nói của Chúa Phục Sinh, Đấng kêu gọi chúng ta làm chứng cho Tin mừng của Người, bằng chính đời sống của chúng ta hơn là bằng lời nói.

Văn kiện mà chúng ta đã bỏ phiếu thông qua là một hồng ân theo ba cách khác nhau.

1. Trước hết, đó là một hồng ân dành cho tôi, Giám mục Rôma. Khi tôi triệu tập Giáo hội của Thiên Chúa bước vào tiến trình Thượng Hội đồng, tôi ý thức rằng mình cần đến tất cả anh chị em, các giám mục và các chứng nhân của hành trình hiệp hành. Xin cảm ơn anh chị em!

Tôi thường tự nhắc nhở mình, và cũng nhắc nhở anh chị em rằng ngay cả Giám mục Rôma cũng cần thực hành lắng nghe; thực vậy, ngài muốn lắng nghe, để đáp lại Lời Chúa, Đấng mỗi ngày nhắn nhủ ngài: “Hãy củng cố anh em ngươi... Hãy chăn dắt chiên của Thầy.”

Anh chị em biết rõ rằng nhiệm vụ của tôi – như Thánh Basiliô đã dạy – là bảo tồn và thúc đẩy sự hòa hợp mà Chúa Thánh Thần vẫn không ngừng gieo rắc trong Giáo hội của Thiên Chúa, trong các mối tương quan giữa các Giáo hội, bất chấp mọi khó khăn, căng thẳng và chia rẽ đánh dấu trên hành trình của Giáo hội để tiến về sự viên mãn của Nước Thiên Chúa. Ngôn sứ Isaia mời gọi chúng ta hình dung Nước ấy như một bữa tiệc Thiên Chúa chuẩn bị cho muôn dân. Tất cả và từng người một, với niềm hy vọng rằng sẽ không ai bị thiếu vắng. Mọi người, mọi người, mọi người! Không ai bị bỏ lại bên ngoài: tất cả. Và đây là từ khóa: sự hòa hợp. Biểu hiện mạnh mẽ đầu tiên của điều Chúa Thánh Thần thực hiện vào buổi sáng lễ Ngũ tuần chính là đem lại sự hòa hợp giữa mọi khác biệt, giữa mọi ngôn ngữ của chúng ta… Hòa hợp. Đó cũng chính là điều Công đồng Vaticanô II dạy, khi khẳng định rằng Giáo hội là “như một bí tích”: là dấu chỉ và khí cụ của sự thể hiện trước của Thiên Chúa; chính Ngài đã dọn sẵn bàn tiệc và đang mong chờ. Ân sủng của Thiên Chúa, thông qua Thánh Thần của Ngài, thì thầm những lời yêu thương vào tâm hồn của mỗi người. Phần chúng ta là khuếch đại âm thanh của những lời thì thầm ấy, chứ không bao giờ cản trở; là mở toang cánh cửa, chứ không bao giờ dựng lên những bức tường. Biết bao tổn hại đã xảy ra khi những người trong Giáo hội xây tường ngăn cách, thật là nhiều tổn hại! Tất cả đều được chào đón, tất cả, tất cả! Chúng ta không được cư xử như những “người phân phát ân sủng”, những kẻ đánh cắp kho tàng và trói buộc bàn tay của Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Hãy nhớ rằng chúng ta đã khởi đầu Khóa họp Thượng Hội đồng này bằng việc xin ơn tha thứ, bằng tâm tình hổ thẹn và nhận biết rằng tất cả chúng ta đều là những người được hưởng lòng thương xót.

Có một bài thơ của Madeleine Delbrêl, nữ thần bí của những vùng ngoại biên, người đã nhắc nhở: “Trên hết, đừng cứng nhắc” – sự cứng nhắc là một tội lỗi, một tội lỗi đôi khi len lỏi vào tâm hồn của giáo sĩ và những người sống đời thánh hiến. Tôi sẽ đọc cho anh chị em một vài câu thơ của Madeleine Delbrêl, được viết dưới dạng một lời cầu nguyện. Bà viết như sau:

Vì con nghĩ rằng có lẽ Chúa đã quá mệt mỏi:
với những con người luôn nói về việc phục vụ Chúa
mà với dáng vẻ của một nhà lãnh đạo,
với những kẻ gặp gỡ Chúa
mà mang thái độ của một giáo sư,
với những ai đến gần Chúa
mà bằng những quy tắc cứng nhắc,
với những người yêu Chúa mà
theo kiểu một cuộc hôn nhân đã già cỗi.

[...]

Xin cho chúng con sống cuộc đời mình,
không như một ván cờ nơi mọi thứ đều được tính toán,
không như một cuộc tranh đấu nơi mọi thứ đều khó khăn,
không như một định lý làm tâm trí chúng con rối bời,
nhưng như một bữa tiệc bất tận,
nơi cuộc gặp gỡ với Chúa luôn được đổi mới,
như một vũ khúc, một điệu nhảy,
trong vòng tay ân sủng của Chúa,
trong bản hòa tấu phổ quát của tình yêu.

Những câu thơ này có thể trở thành nhạc nền để chúng ta đón nhận Văn kiện Chung kết. Và giờ đây, dưới ánh sáng của những gì đã được làm rõ trong tiến trình Thượng Hội đồng, có và sẽ có những quyết định cần phải đưa ra.

Trong thời đại chiến tranh này, chúng ta được mời gọi trở thành chứng nhân của hòa bình, đồng thời học cách cụ thể hóa sự chung sống hài hòa giữa những khác biệt.

Vì lý do đó, tôi không có ý định ban hành một “Tông huấn”: Những gì chúng ta đã phê chuẩn là đủ. Văn kiện này đã chứa đựng những định hướng rất căn bản có thể hướng dẫn sứ vụ của các Giáo hội tại các châu lục khác nhau và trong những bối cảnh cụ thể. Vì thế, tôi lập tức trao nó cho tất cả mọi người; vì thế, tôi đã yêu cầu cho công bố tài liệu này. Bằng cách này, tôi muốn nhìn nhận giá trị của hành trình Thượng Hội đồng mà chúng ta đã cùng nhau thực hiện, và qua văn kiện này, tôi ủy thác nó cho toàn thể Dân thánh của Thiên Chúa.

Cần có thêm thời gian để đi đến những quyết định và lựa chọn liên quan đến toàn thể Giáo hội về một số khía cạnh trong đời sống Giáo hội mà Văn kiện đã nêu bật, cũng như về các chủ đề được giao phó cho mười nhóm “Nghiên cứu”, những nhóm này cần làm việc một cách tự do để đưa ra các đề xuất cho tôi. Vì vậy, tôi sẽ tiếp tục lắng nghe các giám mục và các Giáo hội được trao phó cho các ngài.

Đây không phải là cách cổ điển để hoãn các quyết định vô thời hạn. Đúng hơn, đây là điều phù hợp với phong cách hiệp hành mà thừa tác vụ Phêrô cũng được mời gọi thực thi: lắng nghe, triệu tập, phân định, quyết định và đánh giá. Sự tạm dừng, thinh lặng và cầu nguyện là cần thiết ở mỗi bước đi này. Đây là một phong cách mà chúng ta đang cùng nhau học hỏi, từng chút một. Chính Chúa Thánh Thần mời gọi và nâng đỡ chúng ta trong cách học hỏi này, mà chúng ta cần nhìn nhận như một tiến trình hoán cải.

Tổng Thư ký Thượng Hội đồng và tất cả các Bộ của Giáo triều Rôma sẽ hỗ trợ tôi trong nhiệm vụ này.

2. Văn kiện này bằng nhiều cách khác nhau sẽ là một hồng ân dành cho toàn thể Dân Thiên Chúa. Hiển nhiên, không phải ai cũng sẽ đọc nó; nhưng trước hết, chính anh chị em, cùng với nhiều người khác, sẽ làm cho nội dung của nó trở nên dễ tiếp cận trong các Giáo hội địa phương. Nếu không có chứng tá của kinh nghiệm sống văn kiện này, thì văn kiện này sẽ mất đi phần lớn giá trị của nó.

3. Anh chị em thân mến, những gì chúng ta đã trải nghiệm là một hồng ân mà chúng ta không thể giữ riêng cho mình. Động lực phát sinh từ kinh nghiệm này, được phản chiếu trong Văn kiện, mang lại cho chúng ta lòng can đảm để làm chứng rằng việc cùng nhau tiến bước với những khác biệt, mà không lên án lẫn nhau, là điều khả thi.

Chúng ta đến từ khắp nơi trên thế giới, từ những vùng đất chịu ảnh hưởng của bạo lực, nghèo đói và sự thờ ơ. Nhưng cùng nhau, với niềm hy vọng không làm thất vọng, và với việc được liên kết trong tình yêu mà Thiên Chúa đã đổ vào lòng chúng ta, chúng ta không chỉ có thể mơ về hòa bình, mà còn dấn thân hết sức mình để đạt được hòa bình qua những tiến trình lắng nghe, đối thoại và hòa giải, ngay cả khi chúng ta không thường xuyên nhắc đến "tính hiệp hành". Giáo hội hiệp hành trong sứ vụ giờ đây cần biến những lời chúng ta đã chia sẻ thành hành động. Đó chính là con đường chúng ta phải bước đi.

Tất cả những điều này là hồng ân của Chúa Thánh Thần: Chính Ngài tạo nên sự hòa hợp, chính Ngài là sự hòa hợp. Thánh Basiliô đã có một nền thần học tuyệt vời về điều này: Nếu có thể, anh chị em hãy đọc tác phẩm của ngài về Chúa Thánh Thần. Chính Ngài là sự hòa hợp. Anh chị em thân mến, xin cho sự hòa hợp này tiếp tục ngay cả sau khi chúng ta rời khỏi hội trường này, và xin cho hơi thở của Đấng Phục Sinh giúp chúng ta chia sẻ những hồng ân mà chúng ta đã lãnh nhận.

Và hãy nhớ lời của Madeleine Delbrêl: "Có nhiều nơi mà Thần Khí thổi, nhưng chỉ có một Thần Khí thổi ở mọi nơi."

Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả anh chị em; và chúng ta cũng hãy cảm ơn lẫn nhau. Tôi xin cảm ơn Đức Hồng y Grech và Đức Hồng y Hollerich vì công việc mà các ngài đã thực hiện, hai Phó Tổng Thư ký, Nữ tu Becquart và Đức cha Marín de San Martín – các vị đã làm rất tốt! –, Cha Battocchio và Cha Costa, những người đã giúp đỡ rất nhiều! Tôi cũng xin gửi lời chào đến tất cả những ai đã âm thầm làm việc ở hậu trường; nếu không có họ, chúng ta đã không thể hoàn thành tất cả những điều này.

Xin chân thành cảm ơn! Nguyện xin Chúa chúc lành cho anh chị em. Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau.

Cảm ơn anh chị em!

Bản dịch của Ban Dịch thuật Hội đồng Giám mục Việt Nam

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây