THÁNH KINH
1 Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem,2 và hỏi: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.”3 Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao.4 Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu.5 Họ trả lời: "Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng:6 “Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời.”
7 Bấy giờ vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện.8 Rồi vua phái các vị ấy đi Bê-lem và dặn rằng: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.”9 Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại.10 Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng.11 Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến.12 Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.
13 Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giu-se rằng: "Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi đấy! “14 Ông Giu-se liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập.15 Ông ở đó cho đến khi vua Hê-rô-đê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập.
16 Bấy giờ vua Hê-rô-đê thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh.17 Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a:18 “Ở Ra-ma, vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ: tiếng bà Ra-khen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa.
19 Sau khi vua Hê-rô-đê băng hà, sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giu-se bên Ai-cập,20 báo mộng cho ông rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi.” (Mt 2,1-20)
I. HÊ-RÔ-ĐÊ ĐẠI ĐẾ
1. Nguồn gốc
Hê-rô-đê sinh trưởng trong một gia đình quyền quý có nguồn gốc Na-ba-tê và I-đu-mê (Edom) (thuộc dòng dõi E-xau). Tổ tiên ông theo Do thái giáo. Ông sinh khoảng năm 73 TCN. Cha ông là An-ti-pa-ter xứ I-đu-mê, mẹ ông là công nương Cyprus vùng Pê-tra Na-ba-tê (nay là một phần Gio-dan). Gia đình ông có quan hệ với Rô-ma thời bấy giờ.
Nhờ sự khôn khéo và trung thành với đế quốc Rô-ma ông được Viện Nguyên Lão phong làm “Vua của người Do thái” vào năm 40 TCN và trở về Giu-đê năm 37 TCN.

Vì là người ngoại tộc, không do “Thiên Chúa chọn” mà được Rô-ma dựng lên, ông luôn bị người dân Do thái khình miệt và coi là bù nhìn. Điều này tạo nên tâm lý bất an, luôn lo sợ mất quyền lực, và đa nghi cực độ trong suốt cuộc đời ông; vì ông biết mình không có tính chính danh tôn giáo.
Vương quốc của Hê-rô-đê Đại Đế bao gồm các vùng Giu-đê, Sa-ma-ri-a, I-đu-mê và Ga-li-lê, cũng như một số vùng phía đông sông Gio-đan-Pê-rê, Ba-ta-nê, Hau-ran và Tra-khô-ni-tít.
2. Nhà xây dựng đại tài
Hê-rô-dê là một nhà xây dựng vĩ đại. Ông đã tái thiết và mở rộng đền thờ Giê-ru-sa-lem cực kỳ nguy nga (thường gọi là Đền Thờ thứ hai) để lấy lòng người Do Thái. Đây là công trình mà các môn đệ Chúa Giê-su sau này đã trầm trồ khen ngợi.
Ông xây dựng những pháo đài kiên cố như Ma-xa-đa và cung điện Hê-rô-đi-um...
Ông xây dựng thành phố cảng Xê-da-rê hiện đại bậc nhất thời bấy giờ với hải cảng nhân tạo khổng lồ.
3. Mặt trái đen tối
Vì lo sợ mất ngai vàng, ông đã giết chết vợ mình là Ma-ri-am-nê I, mẹ vợ và 3 người con ruột. Chính Hoàng đế Rô-ma Âu-gút-tô từng mỉa mai rằng: “Làm con lợn của Hê-rô-đê còn an toàn hơn làm con trai của ông ta” (vì người Do Thái không ăn thịt lợn nên nó sẽ không bị giết).
Sự kiện các hài nhi bị giết chết tại làng Bê-lem và vùng phụ cận minh chứng cho sự đa nghi tàn bạo này (Mt 2, 16-19).
4. Những người vợ và con cái
Hê-rô-đê có khoảng 10 người vợ và rất nhiều con cái. Tuy nhiên, thay vì là một mái ấm, gia đình ông lại là một “chiến trường” của những âm mưu và sự sát hại.
Dưới đây là những người nổi bật nhất có liên quan đến lịch sử Kinh Thánh:
a. Bà Doris: Người vợ đầu tiên. Con trai là An-ti-pa-ter (người bị Hê-rô-đê ra lệnh tử hình chỉ 5 ngày trước khi ông qua đời vì nghi tội mưu phản).
b. Bà Ma-ri-am-nê I (Dòng dõi Mác-ca-bê): Người vợ ông yêu nhất nhưng cũng là người ông nghi ngờ nhất. Ông đã ra lệnh xử tử bà và hai con trai của bà là A-lê-xan-đê và A-rít-tô-bu-lô IV.
c. Bà Ma-ri-am-nê II, con gái thượng tế Do thái Si-mon, không thuộc dòng họ Hát-mô-nê: Con trai là Hê-rô-đê Phi-líp-phê I (người chồng đầu tiên của bà Hê-rô-đi-a được Tin Mừng nhắc tới).
d. Bà Malthace (Người Sa-ma-ri): Sinh ra Hê-rô-đê An-ti-pa (người đã chém đầu Gioan Tẩy Giả và xét xử Chúa Giê-su) và Ác-khê-lao (người kế vị tại Giu-đê khiến thánh Giu-se sợ không dám đưa Chúa Giê-su về đó - Mt 2,22).
e. Bà Cơ-lê-ô-pát (Người Giê-ru-sa-lem): Sinh ra Phi-líp-phê II (vị tiểu vương cai trị vùng I-tu-rê (miền Nam Li-ban), Tra-khô-ni-tít (Đông Bắc Ga-li-lê) và Ba-ta-nê (Cao nguyên Hau-ran).
5. Sự kết thúc kinh hoàng của Hê-rô-đê
Hê-rô-đê qua đời vào năm 4 TCN tại Giê-ri-khô. Cái chết của ông được sử gia Giô-xê-phút mô tả là một sự trừng phạt thảm khốc của bệnh tật:
Ông bị loét dạ dày, đau cơ thể dữ dội, hơi thở hôi thối và các chi bị phù nề. Thậm chí, lịch sử còn ghi lại rằng cơ thể ông bị giòi bọ đục khoét khi còn sống (y học hiện đại dự đoán có thể là suy thận mãn tính hoặc một loại hoại tử).
Biết rằng dân chúng sẽ vui mừng khi mình chết, Hê-rô-đê đã ra lệnh bắt giữ tất cả những người danh giá nhất trong vùng và nhốt vào đấu trường. Ông lệnh cho binh lính phải giết hết họ ngay khi ông tắt thở, để “cả nước phải khóc trong đám tang của ông”. May mắn thay, lệnh này đã không được thực hiện sau khi ông qua đời.
Ông được an táng tại Hê-rô-đi-um, một cung điện pháo đài lộng lẫy do chính ông xây dựng.
II. HÊ-RÔ-ĐÊ ÁC-KHÊ-LAO (Herod Archelaus)

Hê-rô-đê Ác-khê-lao là con trai của Hê-rô-đê Đại Đế và Malthace người Sa-ma-ri-a, anh trai của Hê-rô-đê An-ti-pa. Sinh vào khoảng năm 23 TCN. Ông cai trị miền Giu-đê, Sa-ma-ri và I-đu-mê với tư cách là thống đốc (Ethnarch) từ năm 4 TCN.

Với tính cách tàn bạo thừa hưởng của người cha, ông đã ra lệnh thảm sát 3.000 người trong Đền Thờ ngày lên ngôi; và bởi năng lực kém cỏi, ông bị hoàng đế Âu-gút-tô truất phế vào năm 6 TCN và bị trục xuất sang Vien-na. Lãnh địa của ông bị biến thành một tỉnh trực thuộc Rô-ma. Đó là lý do sau này có các Tổng đốc như Phong-xi-ô Phi-la-tô cai trị Giu-đê thay vì vua Do Thái.
Hê-rô-đê Ác-khê-lao được nhắc đến trong Kinh Thánh Mt 2, 19-23, khi Thánh Giu-se đưa Chúa Giê-su từ Ai Cập trở về, nghe tin Ác-khê-lao kế vị cha mình làm vua miền Giu-đê, ngài đã sợ hãi không dám về đó. Nhờ lời báo mộng, ngài đã đưa gia đình lên miền Ga-li-lê, định cư tại Na-da-rét.
Câu chuyện ông đi sang Ro-ma để xin phong vương được thánh Lu-ca đề cập trong dụ ngôn những nén bạc (Lc 19, 12-27).
III. HÊ-RÔ-ĐÊ AN-TI-PA (Herod Antipas)
Hê-rô-đê An-ti-pa là con trai của Hê-rô-đê Đại Đế và Malthace người Sa-ma-ri-a, anh em của Hê-rô-đê Ác-khê-lao. Sinh vào khoảng năm 20 TCN. Ông cai trị miền Ga-li-lê và Pê-rê từ năm 4 TCN.
Ông xây dựng thành phố Ti-be-ri-át bên bờ biển Ga-li-lê để dâng tặng Hoàng đế La Mã.
Ông là người giết Gio-an Tẩy Giả (Mt 14, 1-12) vì bị khiển trách bởi lấy bà Hê-rô-đi-a (vợ của người anh cùng cha khác mẹ). Khi bị khiển trách, ông đã tống giam ông Gio-an và sau đó chém đầu ông trong một bữa tiệc sinh nhật.

Chúa Giê-su từng gọi ông là “con cáo” khi nghe tin ông muốn tìm giết Người (Lc 13, 31-32).
Trong cuộc Khổ nạn (Lc 23, 6-12), Phi-la-tô đã gửi Chúa Giê-su đến cho An-ti-pa vì Người thuộc thẩm quyền miền Ga-li-lê. Chính ông và binh lính đã chế giễu, mặc áo rực rỡ cho Chúa rồi gửi trả lại Phi-la-tô.
Vì tham vọng muốn được phong tước “Vua” (thay vì chỉ là tiểu vương), ông bị Hoàng đế Ca-li-gu-la nghi ngờ mưu phản và bị tước quyền, đày sang xứ Gaule (Pháp ngày nay). Ông chết trong sự ghẻ lạnh và lưu đày năm 39 SCN.
IV. HÊ-RÔ-ĐÊ PHI-LÍP-PHÊ I (Herod Philip I)
Ông là con của Hê-rô-đê Đại Đế và bà Ma-ri-am-nê II, sinh khoảng năm 22 TCN.
Khác với các anh em mình, ông không được chia quyền cai trị mà sống như một thường dân trong hoàng tộc tại Rô-ma.
Ông chính là người chồng đầu tiên của bà Hê-rô-đi-a. Tin Mừng không gọi rõ là Phi-lip-phê, nhưng Giô-xê-phút xác nhận người chồng cũ của Hê-rô-đi-a tên là Hê-rô-đê Phi-lip-phê (x. Mc 6, 17-18; Mt 14, 3-4).
Ông chết âm thầm khoảng năm 34 TCN. Kinh Thánh nhắc đến ông chỉ vì bị An-ti-pa cướp vợ và đó là nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông Gio-an Tẩy Giả.
V. HÊ-RÔ-ĐÊ PHI-LÍP-PHÊ II (Herod Philip II)


Hê-rô-đê Phi-líp-phê II là con trai của Hê-rô-đê Đại đế và Cơ-lê-ô-pát thành Giê-ru-sa-lem. Sinh vào khoảng năm 21 TCN. Cai trị vùng I-tu-rê (miền Nam Li-ban), Tra-khô-ni-tít (Đông Bắc Ga-li-lê) và Ba-ta-nê (Cao nguyên Hau-ran) từ năm 4 TCN.
Ông được coi là người con hiền hậu và công bằng nhất trong các con của Hê-rô-đê.
Ông xây dựng nhiều, công trình quan trọng là thành phố Xê-da-rê Phi-líp-phê, nơi thánh Phê-rô đã tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 13-20) và cũng được nhắc tới ở Lc 3, 1 khi nói về bối cảnh Gio-an Tẩy Giả xuất hiện.
Ông kết hôn với bà Sa-lô-mê, con gái của Hê-rô-đê Phi-lip-phê I và bà Hê-rô-đi-a. Hợp luật. Không tai tiếng. Không có con nối dõi.
Miền đất của ông cũng là nơi Chúa Giê-su thường lui tới để nghỉ ngơi và nơi Chúa Giêsu mặc khải căn tính sâu xa nhất của Người (Mt 16. 13-20).
Ông mất năm 34 SCN do nguyên nhân tự nhiên.
VI. HÊ-RÔ-ĐÊ A-RÍT-TÔ-BU-LÔ IV (Herod Aristobulus IV)
Hê-rô-đê A-rít-tô-bu-lô IV là con bà Ma-ri-am-nê I thuộc dòng dõi nhà Hát-mô-nê (Dòng vua–thượng tế Do Thái chính thống). A-rít-tô-bu-lô IV là hoàng tử có huyết thống Do Thái “chính danh” nhất, được dân chúng yêu mến.
Sinh vào khoảng năm 30 TCN. Được giáo dục tại Rô-ma. Trở về Do thái khi đã trưởng thành. Được dân chúng yêu mến nên cha càng nghi ngờ mưu phản. Bị cha giết chết cùng với người anh là A-lê-xan-đê vào năm 7 TCN.
Vợ ông là bà Bê-rê-ni-xê, thuộc dòng dõi quý tộc Do thái. Các con ông là:
a. He-rô-đi-a, người lấy An-ti-pa và nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông Gio-an Tẩy giả.
b. Hê-rô-đê Ác-ríp-pa I, là vua Giu-đê năm 41-44. Người giết thánh Gia-cô-bê; bỏ tù Thánh Phê-rô (Công vụ 12).
c. A-rít-tô-bu-lô Nhỏ.
A-rít-tô-bu-lô IV là nạn nhân của quyền lực hoang tưởng, biểu tượng cho sự đứt gãy của dòng Hát-mô-nê. Việc ông bị giết dọn đường cho các nhân vật tăm tối hơn (An-ti-pa) nhưng lại mở lối cho Ác-ríp-pa I sau này.
VII. HÊ-RÔ-ĐI-A

Hê-rô-đi-a là con Hê-rô-đê A-rít-tô-bu-lô IV và bà Bê-rê-ni-xê, sinh khoảng năm 15-13 TCN. Cháu nội Hê-rô-đê Đại Đế. Bà nội là Ma-ri-am-nê I.
Như vậy bà mang 2 dòng máu: Hoàng tộc Hê-rô-đê và dòng dõi vua–thượng tế Do Thái chính thống của nhà Hát-mô-nê.
Vợ của Hê-rô-đê Phi-líp-phê I, sống bình thường như một người dân Rô-ma. Bà bỏ chồng và lấy Hê-rô-đê An-ti-pa, là người chú và tiểu vương Ga-li-lê và Pê-rê.

Ông Gio-an Tẩy giả công khai tố giác cuộc hôn nhât bất hợp pháp này (Mc 6, 17-18). Bà oán hận và tìm cách giết chết Gio-an tẩy giả.
Khi An-ti-pa bị lưu đày tại xứ Gaule, bà tự nguyện đi theo chồng lưu đày.
Hê-rô-đi-a là một hình ảnh của tham vọng quyền lực, tự ái bị tổn thương. Đối lập hoàn toàn với Gio-an Tẩy Giả, người dám nói sự thật dù phải trả giá bằng mạng sống. Trong Tin Mừng, bà không chỉ là nhân vật lịch sử mà là biểu tượng của thế lực chống lại tiếng nói ngôn sứ.
VIII. HÊ-RÔ-ĐÊ ÁC-RÍP-PA I
Hê-rô-đê Ác-ríp-pa I là con của A-rít-tô-bu-lô IV và bà Bê-rê-ni-xê, và là cháu nội Hê-rô-đê Đại Đế và bà nội Ma-ri-am-nê I (dòng Hát-mô-nê), sinh năm 10 TCN.

Ông là bạn thân của các hoàng đế Rô-ma Ca-li-gu-la và Cơ-lau-đi-ô.
Ông được Rô-ma trao quyền cai trị gần như toàn bộ lãnh thổ của Hê-rô-đê Đại Đế từ khoảng năm 41–44 sau Công Nguyên.
Ông tôn trọng Luật Môsê. Tham dự phụng vụ Đền Thờ và được dân Do Thái yêu mến và tín nhiệm.
Ông trung thành với Rô-ma. Khéo léo ngoại giao và giữ được thế cân bằng chính trị.
Để lấy lòng người Do thái, ông bách hại Hội Thánh, giết thánh Gia-cô-bê; bỏ tù thánh Phê-rô (Cv 12).
Con trai là Ác-ríp-pa II, người nghe thánh Phao-lô biện hộ (Cv 25–26).
Con gái là Bê-rê-ni-xê, Đơ-ru-xi-la, Ma-ri-am-nê.
Ông chết cách kinh hoàng vì bị giòi bọ đục khoét (Cv 12, 23).
Hê-rô-đê Ác-ríp-pa I là đỉnh cao cuối cùng của triều đại Hê-rô-đê. Một mẫu hình quyền lực lớn nhưng kết cục mong manh. Trong thần học Luca, quyền lực chống lại Hội Thánh có thể huy hoàng một thời nhưng không bền vững trước Thiên Chúa.
IX. HÊ-RÔ-ĐÊ ÁC-RÍP-PA II
Đây là người cuối cùng của dòng tộc Hê-rô-đê nắm quyền lực.
Hê-rô-đê Ác-ríp-pa II sinh khoảng 27–28. Cha là Hê-rô-đê Ác-ríp-pa I và mẹ là Cypros. Ông nội là Hêrô-đê A-rít-tô-bu-lô IV và bà cố là Ma-ri-am-nê I (dòng Hát-mô-nê).

Hê-rô-đê Ác-ríp-pa II mang dòng máu Hát-mô-nê chính thống, nhưng không bao giờ được làm “vua Do Thái” trọn vẹn như cha mình.
Khi vua cha Hê-rô-đê Ác-ríp-pa I mất năm 44, ông mới 17 tuổi nên Rô-ma cho ông quá trẻ để kế vị. Giu-đê trở lại dưới quyền tổng trấn Rô-ma.
Năm 50, ông được trao quyền cai trị Khan-kít, rồi I-tu-rê, Tra-khô-ni-tít và một phần Ba-ta-nê: lãnh thổ nằm phía Bắc Giu-đê, không bao gồm Giê-ru-sa-lem.
Ông am hiểu Luật Mô-sê và phong tục Do thái. Ông có quyền bổ nhiệm và bãi nhiệm thượng tế. Ông được quản lý Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Và đây là lý do thánh Phao-lô muốn biện hộ trước ông (Cv 25, 26).
Trong Công vụ Tông đồ, Hê-rô-đê Ác-ríp-pa II cùng Bê-rê-ni-xê (chị ruột) nghe Phao-lô. Ông thừa nhận: “Ông này không làm điều gì đáng chết hay đáng tù” (Cv 26, 31).
Ông không lập gia đình.
Trước cuộc nổi dậy của người Do thái, ông cảnh báo dân chúng đừng chống lại Rô-ma. Dân không nghe. Coi ông là tay sai ngoại bang.
Ông chứng kiến thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ và Đền Thờ bị thiêu hủy năm 70.
Sau năm 70 CN, ông sống tại Rô-ma. Được hoàng đế Vét-pa-si-an, Ti-tô và Do-mi-ti-an kính trọng.
Hê-rô-đê Ác-ríp-pa II là nhân chứng của ba thế giới: Do Thái giáo Đền Thờ, Quyền lực Rôma và Kitô giáo sơ khai. Ông hiểu sự thật nhưng không dám chọn. Biết mà không theo.
Ông mất khoảng năm 93 CN.
Chết tự nhiên, không con nối dõi. Với ông, triều đại Hê-rô-đê chính thức chấm dứt.
X. HÊ-RÔ-ĐÊ XỨ KHAN-KÍT (Herode of Chalcis)
Hê-rô-đê xứ Khan-kít (Herod of Chalcis) là một nhân vật không được nhắc trong Kinh Thánh, nhưng lại rất quan trọng trong lịch sử Do Thái hậu Hê-rô-đê Cả, đặc biệt vì ông là anh ruột của Ác-ríp-pa I và là người nắm quyền tôn giáo tại Giê-ru-sa-lem trong một giai đoạn then chốt.
Ông sinh khoảng năm 20 TCN. Cha là Hê-rô-đê A-rít-tô-bu-lô IV (bị Hêrôđê Cả xử tử năm 7 TCN). Mẹ là Bê-rê-ni-xê. Ông nội là Hê-rô-đê Đại Đế. Bà nội là Ma-ri-am-nê I (dòng Hát-mô-nê).
Ông sống âm thầm, không có vai trò chính trị đáng kể.
Năm 41, khi hoàng đế Cơ-lau-đi-ô lên ngôi, Ác-ríp-pa I được phong làm vua Do Thái, và ông cũng được trao một vương quốc nhỏ Khan-kít (Li-ban ngày nay). Dù lãnh thổ nhỏ bé, ít dân, nhưng hoàng đế Cơ-lau-đi-ô trao cho ông quyền kiểm soát Đền Thờ cũng như kho báu của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Ông có quyền bổ nhiệm và bãi nhiệm các thượng tế.
Vợ là bà Ma-ri-am-nê III, con gái của O-lym-pi-át và là cháu của Hê-rô-đê Đại Đế.
Ông có một con trai là A-rít-tô-bu-lô xứ Át-mê-ni-a Nhỏ.
Ông không bạo tàn. Không bách hại ki-tô hữu. Ít can dự vào Ga-li-lê và Giu-đê. Vai trò chính là trung gian giữa Rô-ma và giới lãnh đạo Do thái.
Ông mất năm 48 một cách tự nhiên. Trị vì Khan-kít 7 năm (41-48 CN).
Sau khi ông chết vương quốc Khan-kít bị Rô-ma thu hồi. Rô-ma trao cho Ác-ríp-pa II quyền bổ nhiệm và bãi nhiệm Thượng tế cùng quản lý Đền Thờ Giê-ru-sa-lem năm 48, và vương quốc Khan-kít năm 50.
XI. A-RÍT-TÔ-BU-LÔ XỨ ÁT-MÊ-NI-A NHỎ (Aristobulus Armenia Minor)
A-rít-tô-bu-lô xứ Át-mê-ni-a Nhỏ (hay còn gọi A-rít-tô-bu-lô xứ Khan-kít) là một nhân vật không được Kinh Thánh nói tới nhưng được sử gia Giô-xê-phút và lịch sử Rô-ma nhắc đến.
Cha là Hê-rô-đê xứ Khan-kít. Mẹ là Ma-ri-am-nê III. Ông nội là A-rít-tô-bu-lô IV (bị xử tử năm 7 TCN). Ông cố là Hê-rô-đê Đại Đế và bà cố là Ma-ri-am-nê I (dòng Hát-mô-nê).
Ông sinh khoảng năm 30-35 CN. Lớn lên trong bối cảnh hoàng tộc mất quyền lực trung tâm tại Giu-đê. Ông được hoàng đế Nê-rô phong làm vua một vương quốc là Át-mê-ni-a Nhỏ (Armenia Minor) năm 54-55.
Vợ ông là Sa-lô-mê, con gái bà Hê-rô-đi-a và Phi-líp-phê I.
Ông trung thành với Rô-ma. Không nổi loạn. không bách hại Ki-tô hữu.
Có thể ông mất vào cuối thế kỷ thứ nhất. Không có con nối dõi.
A-rít-tô-bu-lô xứ Át-mê-ni-a Nhỏ là một trong những người cuối cùng của dòng Hát-mô-nê - Hê-rô-đê được phong làm vua, minh chứng cho sự tan rã hoàn toàn của vương quyền Do Thái và việc dòng Hêrô-đê chỉ còn là công cụ hành chính của Rô-ma.
XII. BÊ-RÊ-NI-XÊ (BERENICE)
Bê-rê-ni-xê (Berenice) sinh khoảng năm 28 CN. Cha là Hê-rô-đê Ác-ríp-pa I. Mẹ là Cypros. Anh em Hê-rô-đê Ác-ríp-pa II, Đơ-ru-xi-la và Ma-ri-am-nê.
Bê-rê-ni-xê là chắt nội Hêrô-đê Đại Đế, mang dòng máu Hát-mô-nê.
Chồng là Hê-rô-đê xứ Khan-kít, chết năm 48 CN.
Sau đó không tái hôn nhưng sống rất gần gũi với anh trai là Ác-ríp-pa II.
Bê-rê-ni-xê xuất hiện trong Kinh Thánh bên cạnh Hê-rô-đê Ác-ríp-pa II khi nghe thánh Phao-lô biện hộ, được mô tả là lộng lẫy, quyền quý và mang dáng dấp quyền lực thế tục (Cv 25, 13–26, 32).
Sau năm 70, sang Rô-ma. Trở thành tình nhân của Ti-tô.
Bê-rê-ni-xê là hình ảnh quyền lực nữ giới cuối cùng của nhà Hê-rô-đê, sống giữa Do Thái giáo và Rô-ma nhưng không thuộc trọn vẹn về đâu.
Bê-rê-ni-xê kết thúc đời mình trong xa hoa và cô độc khoảng sau năm 80 CN.
XIII. ĐƠ-RU-XI-LA (DRUSILLA)
Đơ-ru-xi-la, em gái của Bê-rê-ni-xê, sinh khoảng năm 38 CN. Cha là Hê-rô-đê Ác-ríp-pa I. Mẹ là Cypros. Anh em Hê-rô-đê Ác-ríp-pa II, Bê-rê-ni-xê và Ma-ri-am-nê. Được xem là rất xinh đẹp.
Đơ-ru-xi-la là chắt nội Hêrô-đê Đại Đế, mang dòng máu Hát-mô-nê.
Chồng là An-tô-ni-ô Phê-lích, tổng trấn Giu-đê.
Bà được nhắc đến trong Cv 24, 24: “Ông Phê-lích cùng đến với vợ là bà Đơ-ru-xi-la, người Do-thái. Ông cho vời ông Phao-lô đến và nghe ông nói về lòng tin vào Đức Ki-tô Giê-su.”
Đơ-ru-xi-la người phụ nữ hoàng tộc duy nhất được Tân Ước nêu đích danh, đại diện cho người Do Thái quý tộc, nghe Tin Mừng nhưng không hoán cải.
Theo sử gia Rô-ma, bà Đơ-ru-xi-la và con trai Ác-ríp-pa chết trong vụ phun trào núi lửa Vesuvius năm 79 CN.
Bảng Hoàng Tộc Hê-rô-đê
| Đời 1 |
Hê-rô-đê Đại Đế |
Vua xứ Giu-đê, người xây Đền Thờ, bạo chúa đa nghi. |
Truy sát Hài Nhi Giê-su (Mt 2) |
Chết vì bệnh nan y thảm khốc năm 4 TCN. |
| Đời 2 |
Ác-khê-la-o |
Con bà Malthace. Cai trị miền Giu-đê. |
Khiến Thánh Giu-se sợ không dám đưa Chúa Giê-su về Giu-đê (Mt 2,22). |
Bị Rô-ma phế truất và lưu đày năm 6 CN. |
| |
An-ti-pa |
Con bà Malthace. Tiểu vương miền Ga-li-lê. |
Giết Gioan Tẩy Giả, xét xử Chúa Giêsu |
Bị tước quyền và lưu đày sang Pháp. |
| |
Phi-líp-phê I |
Con bà Ma-ri-am-nê II. Không nắm quyền lực. |
Chồng đầu tiên của bà Hê-rô-đi-a. |
Sống đời thường tại Rô-ma. |
| |
Phi-líp-phê II |
Con bà Cơ-lê-ô-pát. Tiểu vương miền Bắc. |
Người xây thành Xê-da-rê Phi-líp-phê: sự kiện Phê-rô tuyên xưng đức tin. |
Chết vì tuổi già, được coi là người hiền hậu nhất. |
| |
A-rít-tô-bu-lô IV |
Con bà Ma-ri-am-nê I. Không kịp kế vị. |
Cha của Ác-ríp-pa I và bà Hê-rô-đi-a. |
Bị chính cha (Hê-rô-đê Đại Đế) giết chết. |
| Đời 3 |
Hê-rô-đê Ác-ríp-pa I |
Con của A-rít-tô-bu-lô IV. Cháu nội Hê-rô-đê Đại Đế. |
Giết Thánh Giacô-bê; bỏ tù Thánh Phê-rô (Công vụ 12). |
Chết kinh hoàng vì bị giòi bọ đục khoét. |
| |
Hê-rô-đi-a |
Cháu nội Hê-rô-đê Đại Đế. |
Vợ của Phi-líp-phê I, sau lấy An-ti-pa; người đòi đầu Gio-an Tẩy Giả. |
Theo An-ti-pa đi lưu đày. |
| |
Hê-rô-đê xứ Khan-kít |
Con của A-rít-tô-bu-lô IV. Cháu nội Hê-rô-đê Đại Đế |
Thánh Kinh không nhắc tới. |
Được Rô-ma trao quyền kiểm soát Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.
Có quyền bô nhiệm và bãi nhiệm Thượng tế Do Thái |
| Đời 4 |
Hê-rô-đê Ác-ríp-pa II |
Con của Ác-ríp-pa I. Chắt nội Hê-rô-đê Đại Đế. |
Nghe Thánh Phao-lô biện hộ tại Xê-da-rê (Cv 25-26). |
Chết tại Rô-ma, dòng tộc tuyệt tự. |
| |
Bê-rê-ni-xê |
Con gái Ác-ríp-pa I |
Xuất hiện bên cạnh anh trai khi nghe Phao-lô giảng (Cv 25-26). |
Người phụ nữ quyền lực, mất dấu trong lịch sử. |
| |
Đơ-ru-xi-la |
Con gái Ác-ríp-pa I |
Vợ của Tổng đốc Phê-lích (Cv 24). |
Chết trong vụ núi lửa Pompeii phun trào. |
| |
A-rít-tô-bu-lô xứ Át-mê-ni-a Nhỏ |
Con Hê-rô-đê xứ Khan-kít. |
Thánh Kinh không nhắc tới. |
Không đóng vai trò chính trị lớn. Không liên quan đến Kitô giáo sơ khai |
Tóm lại:
Thế hệ 1: Truy sát Chúa Giê-su (Thất bại).
Thế hệ 2: Nhạo báng Chúa Giê-su và giết ngôn sứ (Bị lưu đày).
Thế hệ 3: Bách hại Giáo hội (Chết thảm).
Thế hệ 4: Khước từ Tin Mừng (Tuyệt tự).
Gb. Nguyễn Thái Hùng
1.2026